Kinh nghiệm được chữa lành tâm hồn của nữ thần học gia Mary Healy

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422 12
(DMNC) Mary Healy là một học giả Kinh Thánh, dạy tại một chủng viện ở Detroit. Tại Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 52 ở Budapest, Hungary, chị đã hướng dẫn các tham dự viên trong một loạt những lời nguyện xin tha thứ và chữa lành. Trong lời chứng chia sẻ vào ngày 9 tháng 9 năm 2021, chị đã chia sẻ chứng tá cảm động của chị, trong đó chị kể lại các phép lạ chữa lành tâm linh và thể lý mà Thiên Chúa đã thực hiện trong cuộc sống của nhiều người.
cq5dam.thumbnail.cropped.750.422 12

Nữ thần học gia Healy kể rằng khi còn nhỏ chị được sinh ra trong một gia đình “Công giáo Chúa Nhật”, nghĩa là chỉ đi lễ vào Chúa Nhật. Nhưng khi chị lên 12 tuổi, cha mẹ chị đã tham dự một khóa tĩnh tâm của phong trào Cursillo và cả hai “đã có một cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu và điều này đã thay đổi họ một cách triệt để”. Chị cũng bị ấn tượng bởi chứng tá của cha mẹ và chị bắt đầu tham gia học Kinh Thánh và tham gia vào một ca đoàn giới trẻ, cũng như tham dự các buổi tĩnh tâm và chính chị cũng đã gặp Chúa.

Bước ngoặt

Tuy nhiên, khi lên đại học, chị Healy cảm thấy “Chúa ở rất xa” và trải qua cảm giác “sa mạc” trong tâm hồn đến độ rơi vào trầm cảm vì cảm thấy “trống rỗng và cô đơn”. Sau khi hoàn thành chương trình học đầu tiên của mình, chị tiếp tục học tại một trường đại học khác. Với xác tín chắc chắn rằng chị “cần Chúa trong cuộc đời mình” nên chị bắt đầu học thần học tại Đại học Notre Dame của dòng Phanxicô. Ở đó, chị đã có những kinh nghiệm quan trọng khác nhau với một cuộc canh tân đặc sủng Công giáo và gặp gỡ các tu sĩ dòng Phanxicô, những người đã truyền cho chị “niềm vui Chúa Thánh Thần”.

Thần học gia Healy kể lại những khoảnh khắc quan trọng khác nhau trong hành trình thiêng liêng của chị, bao gồm Xưng Tội, một đêm canh thức Chầu Thánh Thể, một chuyến đi với những người trẻ khác, trong đó chị cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh. Tất cả những kinh nghiệm này đã thúc đẩy chị chọn bắt đầu sống trong một tu hội đời với những người khác và chị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “giúp đỡ nhau trong đời sống Kitô giáo”. Tuy nhiên, chị cũng gặp khó khăn trong đời sống chung và tương quan với một số người. Chị đã vượt thắng được khó khăn này bằng cái nhìn siêu nhiên và nhờ lời khuyên của một thành viên khác.

Sau đó, chị Healy đã theo một hành trình chuẩn bị và phân định cho đến khi “chị đã hoàn toàn dâng hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa trong đời sống độc thân như một nữ giáo dân sống giữa đời”. Bước quan trọng đó được thực hiện trong Nhà thờ Thánh Mộ ở Giêrusalem.

Chữa lành

Cuối cùng, chị Healy kể lại rằng bảy năm trước, chị đã gặp một mục sư Tin lành, một chuyên gia về “chữa lành”, và chị đã đồng hành với mục sư trong một cuộc truyền giáo ở Brazil. Một kinh nghiệm giúp chị hiểu rằng chị có thể áp dụng nó trong Giáo hội Công giáo và chị đã không cần phải nói về việc chữa lành, nhưng có thể cầu nguyện với đức tin cho sự chữa lành” của người khác. Và chính vì vậy, chị đã tiếp tục nghiên cứu những gì Kinh Thánh mặc khải về việc chữa lành của Chúa Giê-su trong các sách Phúc âm, cũng như trong các tác phẩm của các Giáo phụ, trong cuộc đời của các thánh và trong truyền thống Công giáo.

Ngoài việc thuyết trình tại các hội nghị với nhiều người, chị Healy còn viết những cuốn sách trong đó chị chia sẻ những kinh nghiệm của mình. Chị nói: “Chúa yêu thích chữa lành thường xuyên hơn chúng ta nghĩ, và Người thích sử dụng những người bình thường để làm điều đó”. Nhà thần học nói: “Tôi đã học được kinh nghiệm rằng không phải lúc nào chúng ta cũng nghe rõ Chúa, nhưng Người vẫn hành động, bất chấp những sai lầm của chúng ta”. (ACI Prensa 09/09/2021)

Chữa lành và tha thứ

Thần học gia Healy đặc biệt nhấn mạnh đến mối dây liên kết chặt chẽ giữa sự chữa lành và tha thứ. Cản trở lớn nhất đối với sự chữa lành trong cuộc sống của chúng ta chính là sự không tha thứ, giữ chặt sự oán giận và một số điều gây thương tổn cho chúng ta, những điều có thể là một trở ngại cho hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta”.

Chị đã chia sẻ kinh nghiệm chữa lành cho một phụ nữ bị băng huyết. “Lúc đó có một số người. Chúng tôi bắt đầu cầu nguyện, và khi chúng tôi cầu nguyện, tôi nghĩ Chúa Thánh Thần bảo tôi hỏi bà ấy: ‘Bà có điều gì đau khổ xảy ra trong cuộc sống của bà khi tình trạng này bắt đầu hai năm trước không?’ Bà ấy nói: “Vâng, có, đó là thời gian khi chồng tôi ngừng thực hành đức tin của mình. Ông ấy không đến nhà thờ nữa, và vì vậy tôi phải là người hướng dẫn đời sống thiêng liêng trong gia đình’”.

Chị Healy hỏi người phụ nữ rằng bà đã tha thứ cho chồng mình chưa, và người phụ nữ nói rằng bà đã cố gắng. Chị giải thích với bà: “Tha thứ không có nghĩa là bạn nói: ‘Ồ, không sao đâu. Không vấn đề gì. Không có gì to tát.’ Bởi vì có thể đó là một vấn đề lớn. Nhưng để tha thứ có nghĩa là bạn nói: ‘Tôi để Chúa là người phán xét người đó, nhưng tôi sẽ không tiếp tục nhớ đến sự tổn thương này”.

Sau khi hướng dẫn người phụ nữ cầu nguyện để tha thứ cho chồng và cầu xin Chúa chữa lành, chị Healy đã để người phụ nữ lại một mình trong nhà nguyện. 11 ngày sau đó, chị nhận được một email, trong đó người phụ nữ mô tả trải nghiệm của mình. Bà viết: “Sau khi bạn cầu nguyện, tôi cảm thấy rằng tôi đã được chữa lành. … Tôi nhìn lên cây Thánh giá trong nhà nguyện và  nói: ‘Con là một nhà khoa học và con hoài nghi.’ Nhưng tôi nhìn Chúa Giêsu trên Thánh giá và tôi nói: “Chúa ơi, Chúa đã chữa lành cho con chưa?” Và Người đã gật đầu. Người phụ nữ cho biết từ hôm đó bà đã hoàn toàn khỏi bệnh băng huyết.

Thần học gia Healy cầu xin Chúa Thánh Thần chỉ cho mỗi người biết nếu có ai đó mà chúng ta cần tha thứ. Chúng ta đừng trách họ. Chúng ta chỉ nói họ đã làm gì có hại cho chúng ta và đặt nó trong bàn tay của Thiên Chúa. (CNA 09/09/2021)

Hồng Thủy – Vatican News

Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn

TIEP CAN 2019A 572x429 1

(DMNC) Lý luận, phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn. NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2019, 284 trang

ĐỖ THỊ THU HUYỀN

TS.- Viện Văn học.

Bài in trên tạp chí Nghiên Cứu Văn học (Viện Văn học) số tháng 7/ 2020, chuyên san về “Văn hóa, Văn hoc Công giáo-Diện mạo và đặc sắc”

 Với quan niệm nhà phê bình và nhà văn là tri âm tri kỷ, Bùi Công Thuấn với công trình Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn dường như khám phá ra được đặc trưng trong những tác phẩm của Song Nguyễn[1]. Cấu trúc cuốn sách gồm ba phần: “Giới thiệu tác phẩm của Song Nguyễn”, “Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn”, “Cảm hứng từ Đất mới” đem đến cái nhìn vừa mang tính khái quát vừa có những phân tích sâu về thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Tác giả Bùi Công Thuấn nhận định rằng, xét trên dòng chảy lịch sử văn chương Công giáo, Song Nguyễn (Giám mục Đa Minh Nguyễn Chu Trinh) là người tiếp tục khơi nguồn mạnh mẽ về văn học nghệ thuật của giáo hội và “rồi đây các nhà nghiên cứu văn học Công giáo sẽ tìm thấy nhiều vấn đề lý luận văn chương rất đáng quan tâm từ những tác phẩm của Song Nguyễn” [3, tr.8].

TI%E1%BA%BEP C%E1%BA%ACN 2019A
TIẾP CẬN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG NGUYỄN

       Phần 1- Giới thiệu tác phẩm của Song Nguyễn, tương ứng với 17 tác phẩm là 17 bài viết ngắn, súc tích và đi vào giới thiệu trực diện vấn đề, Bùi Công Thuấn nêu tư tưởng bao trùm tác phẩm, chỉ ra nghệ thuật biểu hiện trong cốt truyện, xây dựng nhân vật, tạo tình huống… 17 tác phẩm được giới thiệu: Một đời dâng hiến, Đồng hành, Đất mới I, II, III, Định hướng, Chỉnh hướng, Còn một niềm tin, Chuyến xe về trời, Người cha hiền, Mẹ yêu của con, Suối nguồn, Đồng cỏ xanh, Vì sao sáng, Tiếng kêu, Đường lên Núi Cúi chủ yếu như những điểm sách để độc giả có thể tiếp cận tác phẩm của Song Nguyễn, với văn phong giản dị, đặc biệt nhiều liên hệ, bày tỏ cảm xúc cá nhân trong bình luận: “Nhìn vào số lượng tác phẩm trên, hẳn chúng ta sẽ thấy ngạc nhiên tự hỏi, Đức cha bận bao nhiêu công việc mục vụ, người lấy thời gian đâu để viết. Tuổi tác đã cao, sao Đức cha có thể kham nổi công việc viết văn nặng nhọc ấy. Nhưng điều quan trọng là, Đức cha tích lũy vốn sống như thế nào để có thể ghi lại được bao nhiêu cảnh đời, chia sẻ được với bao nhiêu là số phận giáo dân” [3, tr.7]. Ở Đồng hành, Song Nguyễn đã viết những trang suy nghiệm sâu sắc về cuộc sống, về đời tu, về ý nghĩa cuộc sống, giá trị làm người, hòa quyện giữa những hoàn cảnh, những kiếp nạn, những niềm vui nỗi buồn với những khám phá từ Kinh Thánh; Ngài Linh mục Nguyễn Phương Toàn dấn thân đi kinh tế mới sau khi nếm trải đủ mùi tục lụy (Đất mới I), ở tập II là dấn thân vì đoàn chiên, con đường của Linh mục Nguyễn Phương Toàn là sự thức nhận “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”…

       Dành những trang viết xúc động về mẹ, về cha, Song Nguyễn đưa đến cái nhìn nhân văn và thông điệp dù không mới nhưng chưa bao giờ là cũ. Những người mẹ bất hạnh đều được ơn Chúa, đều vượt qua những nỗi khổ nhục với tâm hồn bao dung và sau cùng bằng con mắt đức tin họ đã tìm thấy hạnh phúc Chúa ban. Ông còn kể rất hay về những người cha trong cõi đời rất thực này. Mỗi truyện là một người cha của đời thực được khám phá và chiêm nghiệm qua con mắt và trái tim người con: “Hãy sống can trường trong trách nhiệm của mình, hãy làm mẫu gương tốt đẹp cho con, hãy chăm lo cho những mầm xanh tài năng của xã hội thành cánh hoa yêu của Chúa” [3, tr.71].

       Phần 2 – Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn với 7 vấn đề được phân tích kỹ lưỡng. Tác giả bàn sâu về tác phẩm văn chương của Song Nguyễn đặt trong bối cảnh văn chương Công giáo Việt Nam, tư tưởng nhân văn trong Đất mới, và văn hóa Công giáo trong lòng dân tộc. Bên cạnh việc xây dựng những nhân vật linh mục, nữ tu, giáo dân “sống đức tin giữa đời thường”, hành xử theo ánh sáng tin mừng…; những tác phẩm của Song Nguyễn còn đặt ra nhiều vấn đề đối với những người cầm bút Công giáo, chẳng hạn nhà văn Công giáo chọn bút pháp nào, đối tượng của văn chương Công giáo là gì, viết về hiện thực cuộc sống dưới góc nhìn nào và mục đích cầm bút của nhà văn Công giáo là gì… Và mục đích cao nhất của nhà văn là “viết lại những mảnh đời, số phận, trải nghiệm, tác giả có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học cuộc sống; hay nói khác đi tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy” [3, tr.112].

       Giá trị hiện thực thấm đẫm tinh thần nhân văn mà tác phẩm của Song Nguyễn luôn được tác giả tái khẳng định trong 7 bài viết của phần 2. Và rằng, mai sau muốn hiểu xem người Công giáo “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” như thế nào, người đọc có thể tiếp cận với từng con người, từng sự việc một cách cụ thể trong Đất mới, Một đời dâng hiến, Định hướng, Đồng hành… Trong đó, tác phẩm được tập trung phân tích nhiều là Đất mới I, II, III. Song Nguyễn đã xây dựng được hình tượng nhân vật người giáo dân trong Đất mới, vừa có những phẩm chất hiện thực vừa vươn tới những vẻ đẹp của đoàn chiên “như lòng Chúa mong muốn”. Người giáo dân trong Đất mới, đặc biệt là ban hành giáo đã góp mặt cùng với cha sở, linh mục Nguyễn Phương Toàn làm nên một miền đất mới, “đó là vùng đất của đồng cỏ xanh và suối ngọt Đức Ái, vùng đất của nước trời ngay tại trần gian khi tất cả cùng hướng về người nghèo khổ, làm hết sức mình để nâng cao đời sống và phẩm giá của họ” [3, tr.176]; “Đất mới được viết trong ánh sáng của tư tưởng nhân văn công giáo nên từ nội dung câu chuyện đến nhân vật, chi tiết nghệ thuật đến bút pháp đều ánh lên vẻ đẹp chân thực có thể chạm vào được tâm thức sâu xa của người đọc” [3, tr.146]. Bởi thế có thể thấy “tôn giáo đã tạo nên hệ thống những chuẩn mực giá trị đạo đức. Những chuẩn mực ấy không chỉ duy trì trong quá trình thực hiện các nghi thức tôn giáo mà còn điều chỉnh cả hành vi của con người trong đời sống thường nhật khi ứng xử với con người trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Qua những điều cấm kị, răn dạy đã điều chỉnh hành vi của mỗi tín đồ trong đời sống cộng đồng” [2, tr.22].

       Phần 3 là những cảm hứng từ Đất mới gồm 3 kịch bản và 1 ca khúc. Không phải ngẫu nhiên mà phần cuối cùng của cuốn sách dù dung lượng không lớn nhưng lại cho thấy sức ảnh hưởng từ sáng tác của Song Nguyễn đối với người viết. Tác phẩm được tập trung tìm hiểu nhiều nhất, công phu nhất là 3 tập Đất mới, bởi theo Bùi Công Thuấn nhận định, “Đất mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi con người. Ánh sáng tư tưởng nhân văn Công giáo đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào con người chí thiện, vào sức mạnh của con người có thể làm nên Nước trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người Mục tử “hiền lành và khiêm nhường” hết lòng vì đoàn chiên” [3, tr.143]. Với bộ 3 tập Đất mới, Bùi Công Thuấn cho rằng lần đầu tiên văn chương Công giáo Việt Nam có truyện dài mà dung lượng hiện thực được miêu tả có tầm vóc sử thi.

       Thâm nhập sâu vào tác phẩm cũng như hoàn cảnh sáng tác của Song Nguyễn, Bùi Công Thuấn đưa ra những kiến giải tỉ mỉ, sâu sắc về thế giới nghệ thuật Song Nguyễn – hiện thực ở một giáo xứ Công giáo vùng sâu vùng xa những ngày đầu xây dựng kinh tế mới khi đất nước còn vô vàn khó khăn. Nhưng chính ở đó, những nhân vật như Linh mục Phương Toàn (Đất mới) – người đã dấn thân cùng đoàn chiên, khai mở miền đất mới; hay những con người khi bị rơi vào nghịch cảnh, thậm chí tuyệt vọng rồi cuối cùng đều tìm thấy ánh sáng phục sinh nơi Chúa. Bùi Công Thuấn chỉ ra xác đáng rằng, tất cả các tác phẩm của Song Nguyễn, đều trực tiếp hay gián tiếp, nhìn thấy ánh sáng cứu độ của Chúa Giêsu trong mỗi con người; và mỗi câu chuyện đều kết thúc “có hậu” khi các nhân vật đều được hồng ân của Chúa.

M%E1%BB%A5c l%E1%BB%A5c

       Nguyễn Đức Lữ xác định: “Bản tính của người Việt Nam là cởi mở, bao dung chứ không bị hẹp hòi, kỳ thị, khép kín. Dù là tín ngưỡng nào, tôn giáo gì, từ đâu đến, thì cộng đồng người ở đây cũng sẵn sàng chấp nhận – miễn là không vi phạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Khổng giáo và Đạo giáo từ Trung Hoa lan xuống, Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang nước ta từ rất sớm, vẫn song song tồn tại cùng nhau một cách hòa bình cùng với tín ngưỡng bản địa mà không xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo nào. Kể cả về sau một số tôn giáo phương Tây nhập vào Việt Nam, tuy có xa lạ với truyền thống văn hóa dân tộc, nhưng vẫn được chấp nhận” [2, tr.79]. Ngay từ lời đầu sách, Bùi Công Thuấn đã khẳng định vị trí nhất định của văn chương Song Nguyễn: “Theo dòng chảy của văn chương Việt Nam, tác phẩm của Song Nguyễn đã có những đóng góp giá trị vào văn chương Công giáo đương đại, đó là việc khắc họa thành công hình tượng tích cực về các Linh mục Công giáo trong một giai đoạn lịch sử dân tộc có những biến cố lớn lao. Tác phẩm của Song Nguyễn cũng phản ánh được nhiều mặt đời sống người Công giáo từ 1945 đến thời kỳ đổi mới 1986” [3, tr.14]. Giai đoạn hiện nay, theo nhà nghiên cứu Dương Phú Hiệp, “cần giải quyết vấn đề tôn giáo dưới góc độ văn hóa và phải xem xét giáo dục tôn giáo là vấn đề quan trọng” [1, tr.50]. Bởi thế, công trình của Bùi Công Thuấn đã khẳng định một luận điểm hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện tại khi cho rằng những tác phẩm của Song Nguyễn với giá trị hiện thực, tinh thần nhân văn, đã góp một thông điệp ý nghĩa vào công cuộc “xây dựng nền văn hóa Công giáo trong lòng văn hóa dân tộc”, vì đó là nhiệm vụ của mọi thành phần dân Chúa, “họ vừa là Kitô hữu vừa là con dân Việt Nam, vừa phải thấm nhuần văn hóa dân tộc vừa phải làm cho đức tin Kitô giáo trở thành một phần trong di sản văn hóa ấy. Con đường còn rất dài ở phía trước” [3, tr.205].

Tài liệu tham khảo

[1] Dương Phú Hiệp (Chủ biên, 2010), Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2] Nguyễn Đức Lữ (2007), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

[3] Bùi Công Thuấn (2019), Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.

[1] Song Nguyễn là bút danh của Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục Giáo phận Xuân Lộc.

Văn Háo Đất Mới

Tư tưởng Mỹ học Kitô Giáo Và Văn học nghệ thuật Công giáo – Bùi Công Thuấn

Bua tiec ly cua Chua Giesu 772x386 1

(DMNC) Tư tưởng Mỹ học Kitô Giáo Và Văn học nghệ thuật Công giáo – Bùi Công Thuấn

Hãy quan sát nhưng ngôi thánh đường Công giáo, đó là những kiến trúc có vẻ đẹp riêng. Nhà thờ Công giáo luôn có tháp chuông, thường là kiểu tháp nhọn vươn thẳng lên cao, hướng tầm mắt người nhìn lên trời. Hãy nghe thánh ca Công giáo, đó là một nền âm nhạc đồ sộ. Vẻ đẹp toát ra từ giai điệu, lời ca, hòa âm, hợp xướng. Thánh ca Công giáo vang lên khắp mọi nẻo trên mặt đất trong mùa Noel, đưa người nghe vào thế giới của niềm vui thánh thiện hòa bình. Nền thánh ca ấy trở thành một bộ phận trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Và hãy ngắm nhìn những tranh tượng Công giáo, hình ảnh Đức Giêsu, Đức Maria, và rất nhiều nội dung Kinh thánh đã trở thành đề tài hội họa, thành những tác phẩm kinh điển của hội họa thế giới. Cái đẹp của hội họa Công giáo đã gợi ra bao cảm xúc cho người xem tranh…Như vậy, dù là hội họa, âm nhạc hay kiến trúc Công giáo đều có cái đẹp riêng, cái đẹp ấy được soi chiếu bởi tư tưởng Nhân văn và tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

B%E1%BB%AFa ti%E1%BB%87c ly c%E1%BB%A7a Ch%C3%BAa Gi%C3%AAsu
Bức tranh bữa tiệc ly của Chúa Giêsu

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN KITÔ GIÁO

Tư tưởng nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu tư tưởng nghệ thuật từ thời Phục Hưng ở phương Tây. Ðặc trưng chủ yếu của Chủ Nghĩa Nhân Văn là sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)[1]. Văn học và nghệ thuật thời đó đưa “chất người” vào “chất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài”(Shakespear). Các nhà nhân văn chủ nghiã lấy câu của Terence (195/185 –159? TCN), một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi”[2]. Con ngưởi là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên[3]. Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, ngu dân, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng (Tk XV-XVII) được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng (Tk XVIII), ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về  tồn tại của chủ nghiã Hiện sinh (sau thế chiến II).

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Kitô Giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản tính con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang phẩm giá con cái Thiên Chuá, được thánh hóa và và hiệp thông với Thiên Chúa. Sáng Thế Ký viết rằng: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa”(Stk 1, 27). Đức Giêsu nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15, 5). Khi nhập thể làm người, Ngài là Anh Cả của loài người; Ngài là đầu, Giáo hội là Thân thể, mỗi tín hữu là chi thể của Ngài; con người được làm em của Ngôi Con Thiên Chúa và thành con cái của Thiên Chúa. Không có cái nhìn nào về Con người siêu việt như thế. Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chúa Cha cho con người : “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng Ta”(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là Con người trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những con người trong mọi tình huống khốn cùng của họ. Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Đức Giêsu cũng nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông.”(Mt 21, 31). Tên trộm lành đã được vào Nước Trời ngay khi Chúa trút hơi thở trên Thánh giá: Luca thuật lại: “anh ta thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng“(Lc 23, 42-43). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để  phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt.22.37-39). Chúa còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”(Mt. 5:44). Nhưng yêu thương như thế nào? Yêu thương bằng quan tâm thiết thực, như trong dụ ngôn về “Người Samari tốt lành” (Lc.10.29-37). Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người đã truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại.

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng Nhân văn Kitô giáo  thể hiện cái nhìn con người trong phẩm vị con Thiên Chúa, lòng yêu thương Con người mang đến Ơn Cứu rỗi. Điều này khác rất xa với nhiều nhãn quan triết học về con người.

Vấn đề con người, tương quan giữa người với người, hạnh phúc của con người và giải phóng con người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, sự chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng nhân văn Công Giáo mới soi rọi ánh sáng cho số phận của con người. Cả Friedrich Nietzsche và J. P. Sartre đều phủ định Thượng đế. Nietzsche giết chết Thượng đế để tôn con người lên hàng Siêu nhân, con người Tự do, tự định lấy ý nghĩa cho sự tồn tại của chính mình. Với Satre, tất cả là phi lý: ”Thượng đế là một phi lý, vũ trụ là một phi lý và cuộc nhân sinh là một phi lý”. “Tha nhân là địa ngục cho tôi”[4]. Triết học Hiện sinh vô thần kéo con người xuống đất và dìm con người trong tuyệt vọng. Trái lại, Gioan viết: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 9). Đức Giêsu cũng khẳng định: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối”(Ga 12, 46); Người nói rõ hơn: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 1-6). Đức Giêsu và công cuộc Cứu độ của Người trên Thập giá chính là cốt lõi của tư tưởng Nhân văn Kitô giáo.

8 04 thay oi cuu con pheroTƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

Người ta đã nghiên cứu Mỹ học Thiền, Mỹ học Mác-Lê Nin, nhưng viết về Mỹ học Kitô giáo còn thưa thớt.

Thông thường Mỹ học được hiểu là bộ môn khoa học về Cái Đẹp. Alexander Baumgarten đã dùng thuật ngữ Mỹ học để đặt tên cho tác phẩm Aestheticä (Mỹ học) của ông (1750–1758). Nhưng ngoài Cái Đẹp, Mỹ học còn nghiên cứu các phạm trù thẩm mỹ khác như Cái Cao cả, Cái bi, Cái hài... Cho đến nay, chưa có sự thống nhất về đối tượng của Mỹ học.

Mỹ học là một môn học còn trẻ, nhưng tư tưởng Mỹ học lại xuất hiện từ rất xa xưa, từ Platon (427-347 TCN), Aristote (384-322 TCN)… Và nhận thức về Cái Đẹp cũng rất khác nhau. Xin dẫn vài ý kiến. Platon cho rằng có cái đẹp vật chất và cái đẹp tinh thần, nhưng chỉ có cái đẹp tinh thần, cái đẹp của ý niệm, mới là cái đẹp vĩnh hằng, tuyệt đối. Socrates (469-399 TCN) đặt câu hỏi: “Đẹp là gì?”; Ông trả lời: “Đẹp là cái thích thú do tai nghe mắt thấy” (Hippias Maior). Aristote coi Cái Đẹp là trật tự của sự hài hòa, cân xứng.  Ông cho rằng Cái Đẹp của thực tại, trung tâm là vẻ đẹp của con người. Thánh Augustinô (354–430), cho rằng chỉ có thượng đế là vĩnh viễn, là vẻ đẹp tối cao, vẻ đẹp tuyệt đối mà thôi. Thánh Tôma (1225-1274) nhận thức Cái đẹp là một đặc tính của hữu thể. Nền tảng của cái đẹp là chính Thiên Chúa, Hữu thể tự tại. Cái đẹp được nhìn trong tương quan với cái Thật và cái Tốt. Đẹp là sự rạng rỡ của cái Thật [5]. Hegel (1770-1831) quan niệm Cái Đẹp là một sự thể hiện đặc biệt của ý niệm tuyệt đối dưới hình thức cụ thể, cảm tính. Nhà văn nổi tiếng người Nga Fyodor Mikhailovich Dostoyevsky (1821-1881) đã nhận ra giá trị của Cái Đẹp: “Cái Đẹp cứu rỗi thế giới” (lời nhân vật Hoàng thân Myshkin trong tiểu thuyết Thằng Ngốc). Tsernysevski khẳng định dứt khóat: “Cái Đẹp là cuộc sống”.

Thực ra Cái Đẹp là một thực tại khách quan, nhưng nhận thức về Cái Đẹp thì luôn là cảm tính chủ quan. Vì thế, đứng trước một đối tượng thẩm mỹ, ta không thể tranh cãi. Mỗi người có cách cảm thụ Cái Đẹp rất riêng… Nói cách khác chỉ con người mới cảm nhận được Cái Đẹp của thực tại khách quan. Loài vật và sự vật, tự nó không nhận thức được Cái Đẹp. Trong cuộc sống, Cái Đẹp là một giá trị.

“Cái Đẹp” trong tư tưởng Mỹ học Kitô giáo được đặt trên nền tảng Kinh Thánh. Thực tại khách quan ấy là thiên nhiên, vạn vật, đời sống. Sáng Thế Ký thuật lại rằng, sau khi sáng tạo vũ tụ, muôn loài muôn vật và con người, “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (Stk 1, 31). Như vậy Cái Đẹp bắt nguồn từ Đấng Sáng Tạo và mọi Hữu thể đều đẹp. Trung tâm của Cái Đẹp là con người, vì “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (Stk 1, 27). Chỉ khi con người phạm tội, sa ngã, nó mới trở nên xấu và nhận ra Cái Xấu (phạm trù đối lập với Cái Đẹp).

Con Thiên Chúa được sai xuống làm người để cứu rỗi Con người, để làm cho Con người trở nên “hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt. 5, 48). Vì Vậy Đức Giêsu chính là “Cái Đep hoàn hảo”, hình ảnh của Thiên Chúa Cha. Điều này Kinh Thánh từ Cựu Ước đến Tân Ước đều miêu tả cụ thể. “Khi Chúa Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”(Mt 3,16-17). Đức Giêsu hiện ra là một Hữu thể đẹp hoàn hảo làm rạng rỡ vũ trụ, Cái Đẹp mang Thần khí của Thiên Chúa, Cái Đẹp trọn hảo như Ý Chúa Cha.

Một trình thuật khác về Đức Giêsu: “Hôm ấy, Đức Giê-su đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng… chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.”(Mt 17, 1-9). Chính Thiên Chúa Cha đã khẳng định Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo” như ý Chúa Cha.

Tất nhiên Đức Giêsu không chỉ Đẹp qua cái nhìn thị giác như chúng ta đã thấy trong những trình thuật Kinh Thánh ở trên. Vẻ đẹp của Đức Giêsu còn thể hiện ở lòng yêu thương nhân hậu đối với mọi kiếp người, đặc biệt là vẻ đẹp hùng vĩ của Ơn Cứu độ khi Ngài bị treo lên. “Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. Và kìa, bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được chỗi dậy” (Mt. 27, 51-52). Và đây là vẻ đẹp đầy quyền năng của Đấng làm chủ vũ trụ, làm chủ tạo vật trong “ngày quang lâm”: “Vì, như chớp loé ra từ phương đông và chiếu sáng đến phương tây thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy… “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.”(Mt 24 27-21).

Như vậy, Kinh Thánh đã trình bày Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo” (trong tương quan Chân, Thiện, Mỹ), và tư tưởng Mỹ học Kitô giáo được soi chiếu từ chính từ chính Đức Kitô là hiện thân của vẻ đẹp. Những tư tưởng Mỹ học cho rằng Cái Đẹp là đời sống, Cái Đẹp cữu rỗi nhân loại, trung tâm của Cái Đẹp là con người…có những giới hạn nhất định so với trong tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT KITÔ GIÁO

Có thể tóm lược tư tưởng Mỹ học Kitô giáo như thế này: Mọi tạo vật được Thiên Chúa tạo dựng đều tốt đẹp. Thiên Chúa là Cái Đẹp trung tâm, con người được dự phần vào Cái Đẹp trung tâm trong hiệp thông với Đức Kitô. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Và Đức Giêsu, Con Thiên Chúa là “Cái Đẹp trọn hảo”.

Văn chương nghệ thuật Công giáo phải là sự khám phá những tư tưởng Mỹ học từ Kinh thánh, khám phá “Cái Đẹp” tỏa sáng trong mọi tạo vật, trong mọi phận người, mọi hoàn cảnh của cuộc sống, và trên hết phải là “Cái đẹp trọn hảo” của Đức Giêsu.

Tư tưởng Mỹ học (từ Kinh Thánh) kết hợp với tư tưởng Nhân văn Kitô giáo là cốt lõi làm nên mọi giá trị của văn học nghệ thuật Kitô giáo. Điều này có thể nhận trõ trong Âm nhạc, Kiến trúc, Hội họa… Châu Âu.

Để kết, tôi xin mượn những dòng tuyệt bút của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt nam) khi ông khám phá ra Cái Đẹp từ Thánh giá:

“…Hỡi Chúa Trời, con quỳ dưới chân Người, con gánh trên lưng con bóng tối khổng lồ. Đôi môi con run rẩy chạm vào những ngón chân Người giá lạnh nhưng những giọt máu chảy từ bàn tay bị đóng đinh của Người từng giọt, từng giọt rơi xuống ngực con rực sáng và nóng ấm vô tận

Cây thập giá nơi Người bị đóng đinh trong đêm sừng sững dựng lên cái Cây Ánh Sáng vĩ đại nhất trên thế gian này…

Con đã sinh ra trên thế gian này con đã uống sữa thơm và mật ngọt của người
Tuổi thơ con đã từng được những thiên thần của Người dắt chạy trên cánh đồng lộng lẫy của thế gian

Con đã cười vang, tiếng cười trong như ban mai khi chơi trò đuổi bắt cùng những thiên thần của Người

Con đã từng nằm trong vòng tay ấm như hơi lửa để các thiên thần dắt con vào cơn mơ…” (Dưới cái cây ánh sáng– khúc thứ hai).

Tháng 7/2020

_________________

[1] Nguyễn Kiến Giang. http://phucdinhhong.wordpress.com/2010/01/18/v%e1%ba%a5n-d%e1%bb%81-con-ng%c6%b0%e1%bb%9di-va-ch%e1%bb%a7-nghia-nhan-van-m%e1%bb%9bi-pha%cc%80n-1/#more-96

[2] Terence reads: “Homo sum, humani nihil a me alienum puto“, or “I am human, and I think nothing human is alien to me.”[1] This appeared in his play Heauton Timorumenos.

[3] Tự điển Văn Học. tr291

[4] Dẫn theo Trần Thái Đỉnh: Triết học Hiện sinh. Công ty sách Thời Đại và Nxb Văn Học. 2015. Tr.308

[5] https://tsthdm.blogspot.com/2016/09/cai-ep-trong-lich-su-triet-hoc.html

Bùi Công Thuấn – Văn Hóa Đất Mới

Mẹ Dâng Con: Con Cái Là Quà Tặng Chúa Ban

images 2 1

(DMNC) Khi xác tín rằng, con cái là quà tặng của Thiên Chúa, sự sống thuộc chủ quyền của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi tôn trong sự sống, yêu thương, bảo vệ con cái ngay từ giây phút đầu tiên khi chúng được hình thai trong lòng mẹ cho đến khi chết cách tự nhiên

images 2 1

CHÚA NHẬT IV TN A: DÂNG CHÚA TRONG ĐỀN THỜ
CON CÁI LÀ QUÀ TẶNG CỦA THIÊN CHÚA
Ở Việt nam ngoài hai mùa mưa và nắng còn có một mùa mà không nơi nào trên thế giới có, đó là mùa phá thai cuối năm: Phá thai để về quê ăn tết. Một bài viết được đăng trên trang Tin Công Giáo hôm đầu năm vừa qua cho thấy, mùa này được diễn ra sau những ngày lễ hội, các cuộc đi chơi dịp tết. Sau những cuộc vui dài, nhiều bạn trẻ đã ôm nỗi buồn, lo sợ vì không biết xử lý với cái thai bất ngờ của mình, họ đã tìm đến những điểm phá thai để loại bỏ đứa con của mình, cho kịp về quê ăn tết để cha mẹ khỏi biết.
Con số do Tổng cục Thống kê Việt Nam đưa ra ngày 23/9 cho thấy tại Việt Nam mỗi năm có hơn 300.000-350.000 trường hợp phá thai ở độ tuổi 15-19  được báo cáo chính thức từ các bệnh viện, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Nếu kể cả những con số tại các điểm phá thai tư nhân và các độ tuổi khác, thì con số thực sẽ lớn hơn rất nhiều. Việt Nam từng bị Tổ chức Y Tế Thế giới WHO xếp hạng là một trong những quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất trên thế giới và đứng đầu Châu Á.
Thưa quý ÔBACE, trong lúc chúng ta hân hoan cử hành lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, chúng ta đem con đến nhà thờ để tạ ơn và dâng con cho Chúa, thì những nơi khác có biết bao nhiêu người cha, người mẹ đang tước đi quyền được sống của con mình. Họ muốn giành quyền của Thiên Chúa, định đoạt mạng sống của con cái đứa này được sống, đứa kia phải chết.
Truyền thống dâng con trong đền thờ, thể hiện một niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa là Đấng quyền năng, Đấng làm chủ sự sống, Ngài đã ban cho các mẹ được cộng tác với Ngài trong việc thông truyền sự sống. Nghi lễ này của người Do Thái bắt nguồn từ biến cố Xuất Hành, khi Thiên Chúa cho thần huỷ diệt giết chết tất cả các con trai đầu lòng của người Ai Cập, từ loài người cho đến loài vật, từ hoàng tử nhà vua cho đến con cùa người nô lệ, còn con của người Do Thái thì được cứu sống. Sau biến cố này, vua Ai Cập đã để cho người Do Thái ra khỏi đất Ai cập, đi tế lễ Thiên Chúa. Từ đó, để lưu truyền mãi biến cố này cho con cháu, người Do thái dâng con trai đầu lòng cho Thiên Chúa để bày tỏ lòng biết ơn và nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng làm chủ sự sống và đứa bé là thuộc về Thiên Chúa.
Giuse Maria nhận ra Trẻ Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa dành cho gia đình, sau khi sinh con bốn mươi ngày, ông bà đem con lên đền thờ để tạ ơn và dâng con cho Thiên Chúa, từ đây đứa trẻ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng làm chủ mọi sự sống trên trần gian này. Thiên Chúa trao ban sự sống cho vật nào thì vật đó có sự sống. Thiên Chúa đã muốn cho các cha mẹ được cộng tác với Chúa trong việc thông truyền sự sống cho con cái; được tham dự vào công trình sáng tạo và quan phòng của Thiên Chúa để duy trì sự sống trên trái đất này. Vì thế con cái mãi mãi là quà tặng từ nơi Thiên Chúa ban cho các gia đình, để trong môi trường gia đình, sự sống được bảo vệ, con cái được chăm sóc yêu thương bởi cha mẹ.
Gia đình Giuse Maria đã thể hiện lòng biết ơn Thiên Chúa bằng viêc dâng tặng chính người con mà Chúa ban làm của lễ tạ ơn Thiên Chúa. Mặc dù không phải là gia đình giàu có, Maria lo việc nhà, chăm con mọn, Giuse là lao động chính trong gia đình, ông rất vất vả để lo liệu cho vợ con có đủ cái ăn cái mặc. Tuy nhiên cái nghèo khó và sự vất vả không khiến cho gia đình này bỏ qua việc đạo đức và những quy định của lề luật. Trái lại Tin Mừng cho thấy, dù nghèo, dù vất vả, hai ông bà vẫn chu toàn cách vuông tròn luật của Chúa. Họ đem con lên đền thờ dâng cho Chúa, kèm theo một lễ vật rất nhỏ của người nghèo, đó là một đôi chim bồ câu. Việc làm này thể hiện thái độ biết ơn và tấm lòng yêu mến của Giuse và Maria đối với Thiên Chúa; biết ơn vì món quà sự sống là hài nhi Chúa ban, yêu mến vì được Chúa cho sinh con và làm cha làm mẹ.
Giuse Maria hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa vì thế, Thiên Chúa tin tưởng vào gia đình của Giuse Maria, nên đã trao gửi Đấng Cứu Thế, con Thiên Chúa vào trong gia đình này. Khi Thiên Chúa trao gửi Con của Ngài trong gia đình của Giuse Maria, trẻ Giêsu được bảo vệ, chăm sóc, nhất là được dạy dỗ cho đến khi khôn lớn. Thư Do Thái đã quả quyết: Đức Giêsu được đầu thai trong cung lòng Đức Maria và được  sinh ra trong gia đình, đã trở nên hoàn toàn giống như chúng ta, trở nên anh em với chúng ta trong gia đình nhân loại. Giuse và Maria đã chu toàn xuất sắc nhiệm vụ nuôi dưỡng dạy dỗ trẻ Giêsu khôn lớn và trưởng thành trong đời sống tự nhiên và đời sống siêu nhiên. Trong đời sống tự nhiên Đức Giêsu được lớn lên khoẻ manh, khôn ngoan thông thái khiến mọi người nể phục. Trong đời sống siêu nhiên trẻ Giêsu được huấn luyện bằng gương sáng của cha mẹ để trở thành một chàng trai đạo đức, nhiệt thành với việc nhà Chúa. Tin Mừng nhiều lần kể lại việc dân chúng và những luật sĩ và biệt phái không thể tranh luận với Đức Giêsu vì sự thông thái của Ngài. Tin Mừng cũng cho thấy đời sống đạo của Giuse và Maria đã ảnh hưởng sâu đậm trên chàng trai Giêsu khi kể lại: Giuse Maria mau mắn chu toàn các quy định của lề luật; hằng năm có thói quen lên đền thờ hành hương. Sau này thánh Luca cũng ghi nhận Chúa Giêsu vào hội đường mỗi ngày Sabat theo thói quen thường làm. Chắc chắn thói quen thường làm của Đức Giêsu, chính là thói quen tốt mà Giuse và Maria đã tập cho con trẻ Giêsu từ khi còn nhỏ.
Khi gia đình sống thánh, chu toàn bổn phận với Chúa thì mọi người sẽ nhận ra Chúa trong gia đình đó. Tin Mừng kể lại việc hai cụ già Simeon và và Anna đã nhận ra Thiên Chúa nơi gia đình trẻ này. Giuse và Maria đem con lên đền thờ để dâng cho Thiên Chúa cũng giống như nhiều gia đình khác trong dân Do Thái vẫn làm. Thế nhưng hôm nay khi hai ông bà đem con lên đền thờ, thì cụ gia Simeon và bà Anna, tuy tuổi đã cao, mắt đã mờ, nhưng họ vẫn nhìn thấy và nhận ra hài nhi đang nằm trong tay của Maria là đấng Cứu Thế, là Thiên Chúa. Cả hai người này đều là những người cao niên, đạo đức, chuyên cần cầu nguyện và ước ao được nhìn thấy đấng Cứu Thế. Thiên Chúa đã đáp ứng cho hai cụ già ước ao này: Họ đã xin ẵm bế hài nhi và dâng lời chúc tụng Thiên Chúa: Muôn lạy Chúa, giờ đây, theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ Chúa dành sẵn cho muôn dân. Trong khi đó cụ bà Anna: Cảm tạ Thiên Chúa và nói về Hài Nhi cho hết thảy những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem.
Thưa các bậc làm cha mẹ, hôm nay chúng ta đem con đến đây dâng cho Chúa, chúng ta cũng mang cùng một tâm tình cảm tạ như Giuse và Maria. Cảm tạ Chúa vì hồng ân sự sống Chúa ban cho chúng ta và con cái; Cảm tạ Chúa vì Chúa đã cho được cộng tác với Chúa để sinh ra những người con. Con cái là quà tặng của Thiên Chúa; các em là những thiên thần của Thiên Chúa được gửi đến trong các gia đình, để đem lại cho các gia đình niềm vui. Tin nhận như thế, để mỗi người biết không ngừng cảm tạ Thiên chúa và chăm lo cho con cái với hết lòng tin yêu. Cho dù việc chăm lo cho con cái không luôn là điều dễ dàng, nhưng đó là vinh dự và là điều Thiên Chúa cậy nhờ.
Khi xác tín rằng, con cái là quà tặng của Thiên Chúa, sự sống thuộc chủ quyền của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi tôn trong sự sống, yêu thương, bảo vệ con cái ngay từ giây phút đầu tiên khi chúng được hình thai trong lòng mẹ cho đến khi chết cách tự nhiên. Bất cứ hành vi nào cố ý xúc phạm, làm tổn thương, huỷ hoại sự sống của các thai nhi, trong bất cứ giai đoàn nào, lý do nào, đều là tội ác, tội giết người và là tội vô ơn xúc phạm đến Thiên Chúa.
Nhận ra con cái là quà tặng Chúa ban, là các thiên thần nhỏ của Chúa, là hình ảnh của Chúa, các bậc làm cha mẹ nuôi dưỡng chăm sóc, bảo vệ con cái với tinh thần trách nhiệm và với tất cả lòng yêu mến đối với Chúa và với con cái của mình. Ngoài ra, các cha mẹ còn phải tạo một bầu khí gia đình thánh thiện, vui tươi và hạnh phúc để con cái không chỉ được nuôi bằng cơm bánh, mà con được nuôi bằng tình yêu, bằng đời sống đạo đức của cha mẹ nữa.
Xin Chúa chúc lành cho các cha mẹ hôm nay và gìn giữ con cái của chúng ta. Xin mẹ Maria và Thánh Giuse xưa đã bảo vệ Hài Nhi Giêsu thế nào, thì nay, xin các Ngài cũng gìn giữ bảo vệ con cái chúng ta khỏi sự tấn công lôi kéo của ma quỷ và những cám dỗ của xã hội hôm nay. Amen.
 Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

GPXL

MENU

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI CÚI MẸ NÚI CÚI HÀNH HƯƠNG TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN GIÁO PHẬN TƯ LIỆU NÚI CÚI CẦU NGUYỆN LIÊN HỆ
Hành hương
Hiệp ý
Menu
Thông báo
Đăng ký
Facebook Zalo TikTok YouTube
ĐĂNG KÝ