“Hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài hiệp hành đào tạo các môn đệ, cho các ông hiệp thông vào tham gia vào sứ vụ cứu độ của mình. Sau đó, Chúa Giêsu sai các môn đệ đi làm nhiệm vụ thu hoạch vì mùa màng đã nở rộ “lúa chín đầy đồng”. Công việc gặt hái lúa đồng là đem bình an đến với muôn người. Chúa Giêsu căn dặn những lời thiết thực cho sứ vụ các môn đệ. Sứ vụ đó là: lời rao giảng làm rộn lên niềm vui: Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em; lời chào thân thiện: Bình an cho nhà này; hành trang nhẹ tênh: không túi tiền,không bao bị,không giày dép; việc phải làm: chữa lành những người ốm đau; thái độ phải có: khiêm tốn và siêu thoát, đón nhận những gì người ta cung cấp cho, không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu.
Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ. Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.
Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.
Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực
Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tín và muốn chia sẻ. Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đời sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống của chúng ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức sứ vụ thì việc gì, khía cạnh nào của đời sống, họ cũng có thể là lời loan báo.
Chúa muốn các môn đệ đem đến mọi nhà sứ điệp này: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: bình an cho nhà này!”.Bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với mọi người. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Ngài.
“Họ ra đi, mang hạt giống vãi gieo, lúc trở về, reo vui hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125, 6). Tác giả thánh vịnh diễn tả thật đúng tâm trạng của 72 môn đệ về những gì các ông đã thực hiện khi vâng lệnh Chúa ra đi loan báo Tin mừng. Các ông vui mừng hớn hở vì thành quả do sứ vụ rao giảng mang lại. Đồng thời các ông còn cảm nghiệm hiệu quả nhiệm lạ từ quyền năng của Thầy: “Nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng khuất phục chúng con”. Có thể đối với các ông, thành quả của những chuyến “ra khơi”, và những ơn ích do Chúa ân ban mà mắt các ông được chứng kiến là niềm hạnh phúc tột cùng rồi. Thế nhưng, với Chúa Giêsu, đó chưa phải là đỉnh điểm của hạnh phúc. Chúa Giêsu tiếp tục giúp các ông nhận thức tầm quan trọng sâu xa từ những gì các ông đã làm vì danh Chúa cho tha nhân. Đồng thời Ngài cũng khai mở cho các ông biết nguồn gốc quyền năng mà các ông đã có dịp cảm nghiệm, tất cả đều do ân huệ nhưng không của Thiên Chúa muốn qua các ông ban tặng cho con người. Chúa Giêsu còn cho các ông biết rằng, niềm hạnh phúc vĩnh cửu, niềm vui của các ông chính là “tên của anh em được ghi trên trời”. Còn hạnh phúc nào hơn hạnh phúc này, còn thành quả và ân phúc nào hơn đặc ân vô biên mà Thiên Chúa đã ban tặng khi các ông đã chu toàn lệnh truyền của Chúa, đến với muôn dân loan báo Tin mừng cứu rỗi.
Niềm vui không phải là cuộc chiến thắng kẻ thù, đè bẹp được kẻ chống đối, hay loại trừ được những kẻ bị hoài nghi…mà niềm vui của môn đệ Chúa Giêsu là một đời đã thi hành thánh ý Chúa với trọn tâm tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn”, nay được quay về cội nguồn tình yêu, được về Nhà Cha, được về với Chúa.
“Hãy vui mừng vì tên anh em được ghi trên trời”, anh em có một chỗ ở trong cõi vĩnh hằng. Niềm vui không phải chỉ thoáng qua rồi sau đó là những hoài niệm của một thời vang bóng đầy nuối tiếc như ở trần gian. Hạnh Phúc Nước Trời là hạnh phúc vĩnh cửu. Vì chỉ có Thiên Chúa hằng sống mới có thể trao ban hạnh phúc vĩnh cửu. “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,2-3). “Hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Đó mới là đích điểm của cuộc đời kitô hữu.
Ngày xưa được khắc tên vào bia đá trên lưng rùa ở Văn Miếu là một vinh dự chỉ dành cho các tiến sĩ, trạng nguyên. Ngày nay được có tên trong tự điển danh nhân thế giới, hay ca sĩ, nhạc sĩ có tên ca khúc nằm trong bảng sắp hạng Billboard, topten là cả một niềm vui lớn… Thường thường bậc trung như phần đông chúng ta thì có lẽ tên chỉ được ghi trên bìa vở, bìa sách cho biết sở hữu chủ, và trong sổ rửa tội, thêm sức, hôn phối, trong sổ hội viên hội đoàn, rồi sổ tử của giáo xứ và cuối cùng, được ghi khắc nơi bia mộ là xong một đời! Lời Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng tên chúng ta còn được ghi trên trời, trong sổ hằng sống của công dân Nước Trời, nhất là được ghi khắc nơi con tim của Thiên Chúa. Hãy reo vui, hãy phấn khởi vì tên của chúng ta đã được ghi ở trên trời, và ngay từ bây giờ rồi! Còn vinh dự nào lớn hơn! Hãy nhớ rằng để tên mình được ghi trên trời thì phải sống như những công dân Nước Trời, với tư cách là chứng nhân môn đệ Đức Kitô, với hiến pháp là Tám Mối Phúc thật, với kim chỉ nam hướng dẫn là Tin Mừng Đức Kitô. Mỗi ngày tôi sẽ xét mình để biết xem ngày hôm nay tôi đã sống xứng đáng là công dân của Nước Trời chưa. (x. tongdosongdao.org).
Hình ảnh tiên trưng được sách Khải Huyền mô tả viễn tượng cánh chung về tên của những người được đóng ấn và ghi vào Sổ Trường Sinh (x. Kh 5,9 và 20, 12.15). Đó là niềm vui vĩnh cửu được Chúa Giêsu chuộc về cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cần vui mừng hơn vì mình được ghi danh trên Trời, Chúa muốn hướng các môn đệ vui mừng hạnh phúc vì được làm con Thiên Chúa.Mầu nhiệm thứ hai năm sự Mừng: “Thứ hai thì ngắm Đức Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Khi hướng lòng về trời cao, chúng ta sẽ biết cách sống thế nào cho phải lẽ khi còn ở dưới đất. Khi nhìn về trời cao chúng ta mới nhận ra giá trị đúng đắn của mọi thực tại trần gian này, và đi đến hành động thế nào cho phải đạo.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con được làm công dân Nước Trời khi chúng con được gia nhập vào Giáo hội của Chúa, xin cho chúng con sống xứng đáng với ân huệ đó, để ngày sau chúng con được Chúa gọi tên trong Sổ Hằng Sống trên Nước Chúa. Amen
+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An



Việc tôn sùng Trái Tim rất thánh Đức Mẹ dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Tin Mừng theo Thánh Luca đã hai lần nhắc đến Trái Tim Mẹ Maria ở Lc 2,19 và Lc 2,51. Chính Trái Tim Mẹ đã đáp trả thánh ý Thiên Chúa bằng tiếng “xin vâng”[2] cụ thể qua lời thưa với sứ thần trong biến cố Truyền Tin. Do sự ưng thuận vì tình yêu, Mẹ Maria trước tiên đã cưu mang Đức Giêsu trong trái tim mình và rồi cũng cưu mang Đức Giêsu trong cung lòng của Mẹ. Kêu cầu Trái Tim rất thánh của Mẹ là kêu cầu Đấng Cứu Chuộc trong cung lòng Mẹ.
Theo lịch sử Giáo hội, việc tôn sùng Trái Tim rất thánh Đức Mẹ được khởi nguồn với nhiều sử gia: Đầu tiên, vào thế kỷ XII với thánh Anselmo (1109), thánh Bernardo (1153); thế kỷ XIV với thánh Bernadino – Siena (1380-1444); thế kỷ XVII với thánh John Eudes (1601-1680); thế kỷ XIX với thánh Catarina Laboure (1830) và ở thế kỷ XX qua việc hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima (1917). Công Đồng Vaticano II cũng đã dành một phần đặc biệt cho việc sùng kính Trái Tim rất thánh Đức Mẹ Maria.
Giáo hội Việt Nam có lòng sùng kính Mẹ Maria một cách rất đặc biệt, vì thế trong kho tàng kinh đọc ngoài “kinh cầu Đức bà” còn có riêng một “kinh Cầu Trái Tim Rất Thánh Đức Bà” để ca khen Mẹ. Hôm nay ngày lễ đặc biệt Mừng biến cố Thiên Thần Truyền Tin cho Mẹ, biến cố mà Mẹ phải trả lời với Chúa một câu trả lời bằng cả trái tim, chúng ta mừng Mẹ, ca khen Mẹ và gẫm suy lời kinh để cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa tuôn đổ cho chúng ta qua Mẹ.
Cấu trúc “kinh Cầu Trái Tim Rất Thánh Đức Bà” cũng giống các kinh cầu khác ở phần đầu. Trong phần này chúng ta cầu xin Chúa thương xót và tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi. Kế đến là phần chính của kinh cầu, phần này gồm 16 câu ca khen Trái Tim rất thánh Đức Mẹ. Những lời ca khen được thâu tóm lại trong suốt chiều dài của lịch sử về các vấn đề của Thánh Mẫu học, các tín điều về Đức Mẹ.
Lời kinh đã: ca khen Mẹ chẳng hề mắc tội tổ tông truyền; ca khen Mẹ đầy ơn phúc; ca khen Mẹ là tòa xứng đáng cho Đức Chúa Trời Ba Ngôi ngự; ca khen Mẹ là hòm chứa Đấng Cứu Thế; ca khen Mẹ hằng đẹp lòng Đức Chúa Trời, Mẹ rất khiêm nhường, Mẹ đã thông hiệp làm một cùng Đức Chúa Giêsu, Mẹ hay thương xót mọi người, Mẹ hay yên ủi kẻ âu lo, Mẹ cầu bầu cho kẻ có tội và phù hộ cho kẻ lành, Mẹ bầu cử cho Hội Thánh và các tín hữu, Mẹ làm cho kẻ mong sinh thì được cậy trông, Mẹ là Nữ Vương các thánh Thiên thần và các Thánh Nam Nữ. Câu cuối cùng của phần kinh ca khen là tôn vinh Mẹ với tước hiệu trọng đại nhất: Lạy Trái Tim rất thánh rất đáng mến Đức Bà Maria Mẹ Đức Chúa Trời, xin cầu cho chúng con. Để lòng chúng con được sốt sáng mến Chúa như Đức Mẹ.
Thánh Gioan Vianney dạy chúng ta rằng: “Trái Tim của Mẹ Maria là tất cả tình yêu và thương xót. Mẹ chỉ ước mong nhìn thấy chúng ta hạnh phúc. Chúng ta chỉ cần quay về với Mẹ để được người lắng nghe” (1859)[3]. Vì thế, hãy quay về bên Mẹ bằng lời kinh kêu Cầu Trái Tim Mẹ. Thánh Peter Julian Eymard cũng dạy: “Những ai muốn hiểu những bí mật thâm sâu của Tình Yêu Thiên Chúa và những nhân đức được dấu ẩn trong Thần Tính của Chúa Giêsu, phải học chúng qua tấm gương phản chiếu là Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria.”[4] Ước gì chúng ta cũng nhắc nhở mình siêng năng đọc lời kinh, để chiêm ngắm và học nơi Mẹ.
Mừng Mẹ trong ngày lễ hôm nay, chúng con tạ ơn Chúa lòng lành vô cùng, Đức Chúa Giêsu là Con Chúa cùng là Con Rất Thánh Đức Mẹ có lòng thương chúng con thế nào, thì Chúa cũng làm cho Rất Thánh Đức Bà được lòng thương chúng con thế ấy; vì vậy, chúng con xin Chúa ban ơn cho những ai có lòng sốt sáng tôn kính Trái Tim cực thanh cực sạch Rất Thánh Đức Mẹ, được hợp một ý một lòng cùng Đức Chúa Giêsu, là Đấng hằng sống hằng trị làm một cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần đời đời chẳng cùng. Amen.
Xin tri ân mẹ Giáo hội đã dọn cho chúng con những lời kinh xinh đẹp để mỗi ngày trong mỗi hoàn cảnh con ca tụng Chúa, và mỗi ngày trong mỗi cuộc đời, chúng con luôn có Mẹ ở bên.
Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P
Vietnamese Radio Veritas Asia
[1] Lịch sử “Việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria”, Lm. Matthew R. Mauriello, Maranatha dịch.
http://tinmung.net/trang%20cua%20me%20maria/Cac-Le-Ve-Me/Trai-Tim-Me/Vie…
[2] Lc 1,38
[3] Đức Giám Mục Mai Thanh Lương, Trần Mỹ Duyệt, “Maria – Mẹ Việt Nam”, 2017, Tủ sách Đồng Hành, tr 150.
[4] Thánh Peter Julian Eymard, Sđd tr 150.