ĐTC bổ nhiệm 3 người nữ vào Bộ Giám mục

vtc
(DMNC) Ngày 13/7/2022, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm ba người nữ, gồm hai nữ tu và một trinh nữ thánh hiến, làm thành viên của Bộ Giám mục, cơ quan sẽ chịu trách nhiệm đánh giá các ứng viên giám mục cho các giáo phận. Đây là những người nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ Giám mục.
vtc
Người thứ nhất là sơ Raffaella Petrini, dòng Phanxicô, đang là Tổng thư ký của Phủ Thống đốc thành Vatican, vị trí thứ hai trong Phủ Thống đốc thành Vatican, kể từ tháng 11/2021.

Tiếp đến là sơ Yvonne Reungoat, bề trên tổng quyền của Dòng Con Đức Mẹ Phù hộ. Năm 2019, nữ tu người Pháp này là một trong bảy phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ Tu sĩ.

Và cuối cùng là chị Maria Lia Zervino, thành viên của Hiệp hội các Trinh nữ Thánh hiến “Servidoras”, chủ tịch của Liên minh các Tổ chức Phụ nữ Công giáo Thế giới. Chị cũng là cố vấn của Bộ Đối thoại Liên tôn.

Cách nay một tuần, trả lời các câu hỏi phỏng vấn của phóng viên Phil Pullella của hãng tin Reuters, Đức Thánh Cha đã thông báo về việc bổ nhiệm một số người nữ vào Bộ Giám mục; họ sẽ tham gia vào việc chọn các giám mục mới cho các giáo phận.

Cũng trong ngày 13/7/2022, Đức Thánh Cha cũng bổ nhiệm bốn Hồng y, bốn Hồng y tân cử và hai giám mục làm thành viên Bộ Giám mục.

Cho đến nay, các thành viên của Bộ Giám mục là nam giới và chủ yếu là các Hồng y, và một số giám mục.

Công việc của 24 thành viên của Bộ Giám mục là hỗ trợ việc chọn giám mục cho các giáo phận. Thông thường, Sứ thần Tòa thánh tại một nước chuyển các đề cử và tài liệu cho Vatican. Sau đó, Bộ Giám mục thảo luận về việc bổ nhiệm và tiến hành bỏ phiếu. Các ứng viên sẽ được trình lên Đức Giáo hoàng cùng với các đề cử. Nhưng quyết định cuối cùng trong việc bổ nhiệm giám mục thuộc về Đức Giáo hoàng, và ngài có thể tự do lựa chọn bất cứ ai mà ngài chọn.

Hồng Thủy – Vatican News

Kinh Mân Côi là ân phúc thiêng liêng

222222
KINH MAN COI LOI KINH LOAN BAO ON CUU DO
Để tỏ lòng hiếu thảo với Mẹ, chúng ta không quên nhắc lại những điều kỳ diệu và ơn ích của kinh Mân Côi.
Truyền thống kể lại rằng, Mẹ đã trao cho thánh Đa Minh tràng chuỗi Mân Côi như một vũ khí thiêng liêng để chống lại các bè rối thời Trung Cổ. Mẹ đã trao cho thánh Đa Minh sứ mạng phổ biến việc lần hạt Mân Côi như một phương thế hiệu nghiệm để cứu rỗi bản thân và thế giới. Trong Giáo Hội, mỗi vị thánh đều có lòng yêu mến Mẹ cách riêng biệt. Thánh Gioan Maria Vianney luôn miệt mài hun đúc lòng cậy trông Mẹ trong các tâm hồn giáo dân đến xưng tội với Ngài. Cha Gioan nói, thỉnh thoảng Ngài cũng được diễm phúc nói chuyện với Mẹ Maria. Cha van xin Mẹ cho các tội nhân ăn năn trở lại, nhất là những kẻ cứng lòng khô khan nguội lạnh. Thánh Lu-i-Đờ-Mông-Pho, vị thánh đã dành cả cuộc đời để rao giảng và tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria. Thánh nhân nói : “ Cùng với việc đọc kinh Mân Côi để tôn kính Mẹ, chúng ta còn phải dứt khoát tội lỗi và thực thi các nhân đức của Mẹ. Đó là đức khiêm tốn sâu xa, tin tưởng mãnh liệt, vâng lời triệt để, liên lỉ cầu nguyện hy sinh trong những việc lớn nhỏ, giữ tâm hồn trong trắng, lời nói việc làm ngay chính”. Đức Cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận đã cho chúng ta kinh nghiệm sâu xa về tình yêu của Mẹ Maria. Đức Hồng Y đã nói : “ Mẹ Maria là mối tình đầu của tôi. Mẹ đã đạp đầu con rắn, Mẹ sẽ giúp chúng ta chiến thắng ma quỷ, xác thịt và thế gian. Mẹ sẽ ban ơn cho chúng ta giữ vững lý tưởng cao cả mà Chúa đã đặt vào lòng chúng ta. Lúc sa ngã, chúng ta hãy khiêm tốn khóc lóc với Mẹ. Nếu Mẹ đã nhận tông đồ Gioan, nhận Madalena tội lỗi, nhận người trộm lành thì Mẹ cũng sẽ nhận chúng ta.”
Nhìn vào cuộc sống hiện tại chúng ta thấy thế giới cũng đang trải qua những biến động và xáo trộn về kinh tế, chính trị, luân lý đạo đức và nhất là niềm tin tôn giáo. Mặc dù không có những cuộc bách hại gay gắt, không có ảnh hưởng của các bè rối nhưng có một đe dọa khác tệ hại hơn đó là những học thuyết, những trào lưu tư tưởng, những lối sống hưởng lạc, những thể chế chính trị chối bỏ Thiên Chúa, đả phá tôn giáo mỗi ngày một bành trướng khiến cho một số người xa lìa đức tin. Để nhân loại được hòa bình, để thế giới được an vui, chúng ta không có một phương pháp cầu nguyện nào hữu hiệu hơn đó là siêng năng lần hạt Mân Côi, cải thiện đời sống và tôn sùng trái tim Mẹ. Khi hiện ra ở Fatima , Mẹ đã hứa những ai trung thành lần hạt Mân Côi khi còn sống và nhất là trong giờ lâm tử sẽ được ánh sáng Chúa soi dẫn và sẽ được thừa hưởng vinh quang lớn lao trên Trời. Tón lại, kinh Mân Côi, đúng như cách nói của thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II chính là “lời kinh kỳ diệu dâng qua Đức Mẹ tới Chúa Giêsu để người đọc được vững đi trên còn đường thánh hóa.”
Lạy Chúa, khi nhập thể, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Con Một của Ngài một người Mẹ tuyệt hảo là Đức Maria, một thụ tạo tuyệt vời, Đấng đầy ân sủng được Thiên Chúa yêu mến, xin Chúa liên kết chúng con bằng tràng chuỗi Mân Côi, để mỗi ngày chúng con biết noi gương Mẹ sống trọn vẹn cho Chúa, để lời kinh trở nên ân phúc thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống đức tin và tăng thêm lòng yêu mến Chúa mỗi ngày. Amen.
Đặng Thế Dũng
Nguồn: VRVA

“Yêu Bằng Việc Làm” Tuần XIV Thường Niên, Năm C

CNe 1

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là câu chuyện đẹp về tình yêu thương. Người Samaritanô nhân hậu đã sống đức yêu thương cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”.

CN 1

“Ai là anh em tôi?”. Khi đặt câu hỏi như thế, vị tiến sĩ luật hy vọng rằng, Vị Thầy sẽ đưa ra cho ông một phẩm trật giữa những người gần gũi phải giúp đỡ và những người xa lạ, không cần quan tâm, không cần để ý đến. Câu trả lời của Chúa Giêsu đã quay ngược hoàn toàn câu hỏi. Người anh em, chính là người có lòng thương cảm, ra tay nâng đỡ, cứu giúp những ai đang gặp khó khăn, thử thách, đau khổ, thất vọng. Chúa nói với vị luật sĩ: “Ông hãy đi và làm như vậy”; Ông cứ quảng đại nhân hậu và chạnh thương với mọi người, ông sẽ trở thành người thân của mọi người và mọi người sẽ là người thân của ông.Tấm gương người Samaritanô nhân hậu đã được Đức Thánh Cha Phanxicô đề cao trong Năm Thánh Lòng Thương Xót.

  1. Vô cảm và quan tâm

Chúa Giêsu kể dụ ngôn: một người ở Giêrusalem xuống Giêricô, giữa đường bị bọn cướp trấn lột, đánh cho nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Thầy Tư Tế đi qua, thấy vậy liền lãng tránh. Thầy Lêvi đi tới cũng chẳng ngó ngàng, bỏ mặc nạn nhân. Họ “tránh qua” một bên để đi, thật lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, họ vẫn tự cho mình là những người đạo đức, không dám sờ chạm đến người bị nạn vì sợ bị nhiễm uế.

Một người ngoại đạo Samari đi ngang, thấy người lâm nạn nên đã quan tâm, liền cúi xuống băng bó, đặt lên lưng lừa đưa về quán trọ, nhờ chủ quán săn sóc rồi trả hết mọi phí tổn. Người Samari “tới gần” nạn nhân nửa sống nửa chết. Ông “chạnh lòng thương” nên đã đi vào nếm cảm cảnh khốn cùng “bị tước đoạt, bị cướp bóc” như nạn nhân; chạnh lòng thương là cùng đớn đau nỗi khổ ải bất lực “nửa sống nửa chết” của người ấy. Đây chính là điều bất ngờ và làm thành ý nghĩa độc đáo của dụ ngôn. Người Samari đã sống luật yêu thương một cách trọn vẹn, không chỉ là lòng thương cảm mà “yêu bằng việc làm”, và làm với hết khả năng của mình.

Đạo của Chúa Giêsu là Đạo Thiên Chúa làm người, rất gần gũi với con người. Vì con người là con đường của Giáo hội (Thánh Gioan Phaolô II). Người Đông Phương lấy chữ nhân mà định nghĩa con người: nhân là người, nhân là nhân ái là lòng thương người.

  1. Tình yêu và lề luật.

Qua dụ ngôn Chúa Giêsu kể, tôi thấy rằng, cái khác biệt sâu xa giữa Kitô giáo và Do thái giáo, đó là: một bên là đạo của tình yêu, một bên là đạo của lề luật. Tư Tế và Lêvi tượng trưng cho tinh thần vị luật của Cựu Ước. Người Samari tượng trưng cho những người sống tình yêu. Những người tốt thì sống theo sự đòi hỏi của lương tâm hơn là của lề luật thành văn. Thấy người bị nạn, người Samari tốt lành đã động lòng xót thương. Lương tâm và tình thương đồng loại thúc đẩy anh cứu giúp người bị nạn đến nơi đến chốn bất chấp nạn nhân là người Do Thái thuộc dòng tộc có hiềm khích với dòng tộc của anh. Cung cách hành xử đầy tình thương này mới làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Nhìn từ lăng kính luật pháp Do thái, hai ông Tư Tế và Lêvi đã không sai. Luật Cựu Ước dạy rằng, Tư Tế không được đụng vào thây người chết vì sợ bị ô uế. Nếu ô uế thì không được phục vụ trong đền thờ. Nạn nhân dở sống, dở chết, tức là có thể chết. Hai người Tư Tế và Lêvi không dám chạm đến người có thể chết. Họ lựa chọn lề luật. Sách luật (Lv 21) ghi rõ điều khoản luật này khi nhắc đến Tư Tế và người chết.

Người Samari lựa chọn bác ái. Ông không ngại chạm đến người dở sống dở chết này. Ông chăm sóc, lo lắng cho bệnh nhân như người thân và đã vượt quá giới hạn lề luật để sống theo bác ái. Khi phải lựa chọn giữa lề luật và bác ái, người nhân hậu lựa chọn bác ái dù biết các ràng buộc của lề luật. Người ấy không bỏ qua lề luật, không đả phá lề luật nhưng vượt trên lề luật nên đã làm trọn lề luật.

Chúa Giêsu hỏi người thông luật: “Ai là người thân cận của nạn nhân đã sa vào tay kẻ cướp?”. Người ấy đáp: “Người đã đem lòng từ bi thương nạn nhân”. Chúa Giêsu đã khéo léo lái vấn đề từ câu hỏi người thông luật: ai là người thân cận của tôi? sang gợi ý tuyệt vời của Ngài: tôi là người thân cận của ai? Trả lời câu hỏi này có lẽ phải đi từ cuộc sống cụ thể của mình. Khi tôi đến gần ai để phục vụ với tình yêu thì tôi trở thành người thân cận với kẻ ấy, và kẻ ấy thành người thân cận với tôi. Ai cũng có thể trở thành người thân cận của tôi nếu tôi yêu thương họ bằng tình yêu mà Chúa đã thương yêu tôi. Chúa Giêsu nói với người thông luật: “Ông hãy đi và hãy làm như vậy”. Ông cứ quảng đại nhân hậu và chạnh thương với mọi người, ông sẽ trở thành người thân của mọi người và mọi người sẽ là người thân của ông.

Luật bác ái vượt trên mọi lề luật khác.Mến Chúa và yêu người là cốt lõi của Kitô giáo. Chúa Giêsu dạy rằng: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ Lời Thầy”. Đạo của Thầy Giêsu là Đạo Tình Yêu. Yêu Chúa, Yêu Người là hai mặt của một tình yêu duy nhất. Yêu Chúa đích thực thì phải yêu người. Thánh Gioan viết: “Ai nói mình yêu Chúa mà không yêu người thì là kẻ nói dối”. Đối với Thánh Phaolô: “Yêu thương là giữ trọn lề luật”. Lề luật không phải được lập nên cho người có tình yêu mà cho người không có tình yêu. Nếu không có tình yêu thì việc làm theo lề luật có tốt đến đâu cũng vô giá trị: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi”. Thánh Augustinô khuyên nhủ: cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm. Tình yêu sẽ cho biết ta phải làm gì.

  1. Luật “Good Samaritan”

Theo tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc (Úc) : “Dưới ảnh hưởng của Phúc Âm Luca, chữ “Samaritan” trở thành biểu tượng của sự từ ái nói chung. Và từ thế kỷ 17, nó nhập vào kho từ vựng tiếng Anh, với nghĩa là người có thiện tâm, biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và không ngại cứu giúp người khác. Không phải chỉ giới hạn trong văn chương. Nó còn biến thành luật. Trong thuật ngữ luật pháp, có chữ luật “Good Samaritan” rất phổ biến, với ý nghĩa là “một người nào đó sẵn sàng cứu giúp một kẻ khác đang bị thương hoặc có nguy cơ bị thương chỉ vì thiện chí và không hề tính toán đến chuyện được đền đáp hay bất cứ một phần thưởng nào khác”.

Nội dung khái niệm luật “Good Samaritan” thay đổi theo từng nước. (Xem bài: “The Good Samaritan Law Across Europe” của The Dan Legal network trên https://www.daneurope.org). Ở một số nơi, luật ấy chỉ quy định miễn thuế trên số tiền người dân cống hiến cho các quỹ từ thiện cũng như miễn tội cho những thiệt hại hay những sai phạm có tính kỹ thuật mà những người muốn cứu giúp người khác có thể mắc phải trong lúc khẩn cấp. Ở một số nước, như Pháp hay Đức, luật “Good Samaritan” còn buộc tội bất cứ ai thấy người gặp nạn cần cứu giúp mà không cứu giúp, từ những người gây ra tai nạn (ví dụ tài xế), đến thân nhân nạn nhân (bố mẹ, anh em trước những nguy hiểm của người thân trong nhà) đến cả những người đi qua đường.

Tại Úc, luật “Good Samaritan” chỉ giới hạn trong việc miễn truy tố những thiệt hại do người có thiện chí cứu giúp người khác gây ra (nếu có) nhưng lại không kết tội những kẻ bàng quan vô cảm (trừ đối với những kẻ gây ra tai nạn). Gần đây, đối diện với hiện tượng dửng dưng trước những người gặp tai nạn cần được cứu giúp, nhiều người, đứng đầu là Giáo hội Công giáo tại Úc, đề nghị thêm vào luật “Good Samaritan” một điều khoản mới, về bổn phận giúp đỡ người khác (duty to aid). Nội dung của điều khoản này là: việc cứu giúp người bị nạn không phải chỉ là một vấn đề đạo đức mà còn là một vấn đề pháp lý; không phải chỉ là chuyện thuộc lương tâm mà còn là bổn phận của mọi công dân. Theo luật này, ai thấy người khác đang gặp nạn mà không ra tay cứu giúp có thể bị truy tố và phạt tội. Dĩ nhiên, cái gọi là “cứu giúp” ở đây còn tùy thuộc vào điều kiện và khả năng của từng người. Nhưng ít nhất, có một điều tối thiểu mà ai cũng làm được: kêu cứu (gọi người chung quanh, báo cho cảnh sát hoặc sở cấp cứu). (x. https://en.wikipedia.org/wiki/Good_Samaritan_law).

Trong Thánh Lễ vào sáng sớm thứ Hai tại nguyện đường Thánh Mácta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã giảng về dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu. Đoạn kết, ngài nói: Một số nhà Thần Học cổ đại nói rằng, dụ ngôn người Samariatanô nhân hậu chứa đựng “toàn bộ Tin Mừng”. Mỗi người trong chúng ta đều là một người bị thương nằm ở đó và người Samariatanô chính là Chúa Giêsu. Ngài đến gần chúng ta. Ngài chăm lo cho chúng ta. Ngài thanh toán phí tổn cho chúng ta. Ngài chữa lành những vết thương của chúng ta. Và Ngài nói với Giáo hội của Ngài rằng: “Nếu cần nhiều hơn, thì xin bạn cứ ứng ra dùm, khi nào tôi trở lại thì tôi sẽ trả cho bạn. Anh chị em hãy suy nghĩ cho thật kỹ nhé: Toàn bộ Tin Mừng đều nằm trong đoạn này”. (Theo Vatican News – gs – 08.10.2018).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con là những người Samaritanô của thời đại này, biết “yêu bằng việc làm” để chúng con trở nên dấu chỉ hữu hiệu cho Tin Mừng Tình Yêu của Chúa. Amen.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CNe 1

Hãy “gọi điện” cho Đức mẹ bằng chuỗi mân côi

GOI DIEN CHO DUC ME BANG KINH MAN COI

GOI DIEN CHO DUC ME BANG KINH MAN COI

Có câu chuyện về nhà bác học Louis Pasteur và chuỗi Mân Côi như sau:
Trên chuyến xe lửa từ Paris xuống mìền nam nước Pháp. Hành khách đông nghẹt, ồn ào, kẻ lên người xuống, hàng hóa ngổn ngang. Một chàng sinh viên khoa học đang cố gắng len lỏi tìm chỗ ngồi. Bất giác chàng thấy một Ông cụ già đang ngồi lâm râm lần hạt Mân Côi. Chàng liền đến ngồi bên Cụ, thực chất là để xem Ông Cụ già lẩm cẩm này làm cái gì, thời buổi văn minh bây giờ mà còn ngồi đọc mấy cái kinh nhảm nhí. Chàng mở to tờ bào khoa học có đăng hình nhà bác học Louis Pasteur, đang nghiên cứu về một đề tài bàn luận về vi trùng học. Anh vội chạy lại vỗ vai Ông Cụ, và nói: Bác có cần sách báo gì để đọc, cho cháu điạ chỉ, cháu sẵn sàng gửi đến cho Bác. Thời nay văn minh rồi, ai còn tụng niệm như Bác nữa. Ông Cụ gật đầu, đọc hết kinh kính mừng, Cụ mở ví ra, rút một tấm danh thiếp đưa cho chàng sinh viên. Chàng cầm tấm danh thiếp và đọc: “Bác Học Louis Pasteur, Giám Đốc Viện nghiên cứu vi trùng học quốc tế, Giáo sư chuyên khoa Đại Học hoá học và sinh vật học.” Chàng sinh viên bật ngửa, kêu to lên: thì ra đây là vị đại Giáo sư mà mình đang là học trò của Ông. Chàng liền so sánh hình chụp trong tờ báo khoa học, và hình ông Cụ nhà quê đang ngồi lần chuỗi Mân Côi, thì giống y chang. Chàng liền quỳ xuống bên cạnh Ông Cụ, xin lỗi, và cúi hôn chuỗi hạt Mân Côi mà Cụ đang cầm trong tay. Rồi chàng trở về chỗ ngồi, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ, và hối hận…. Còn Ông Cụ vẫn tiếp tục lần chuỗi Mân Côi….
Quý vị và các bạn thân mến!
“Thời nay văn minh rồi, ai còn tụng niệm như Bác nữa”. Thiết nghĩ trong cuộc sống hiện nay, những người có suy nghĩ như chàng thanh niên trong câu chuyện nêu trên cũng không phải là hiếm. Thật vậy, với những bộn bề lo toan, người trẻ lo việc học hành, bị cuốn hút vào những thú vui của ngành công nghệ truyền thông, người trung niên thì chạy theo nấc thang của sự thành đạt, của nhu cầu ngày cao trong cuộc sống, người ta không có thời gian dành cho Thiên Chúa. Đằng khác, với những tiến bộ vượt bậc trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tin học và nhất là y tế v..vv.. con người thời hiện đại tỏ ra rất hãnh diện vì cho rằng mình đã loại bỏ được quyền lực của Thiên Chúa và làm chủ lấy vận mệnh của mình. Do vậy, con người không còn muốn quan tâm đến những việc đạo đức, đặc biệt đó là các việc đạo đức bình dân.
Tuy nhiên, cuộc sống của mỗi một con người trên trần gian này dù ở bất cứ thân phận nào cao sang hay thấp hèn thì ai ai cũng có những thử thách và đau khổ. Trong những lúc như thế, con người có xu hướng tìm đến người thân, bạn bè bằng nhiều hình thức như gặp gỡ hay gọi điện để cùng sẻ chia tâm sự vì rằng được lắng nghe, được thấu hiểu quả là một nhu cầu chính đáng của con người. Là người người Ki tô hữu, chúng ta hãy dùng chuỗi Mân Côi để gọi điện cho Mẹ Maria. Chắc chắn Mẹ sẽ lắng nghe mọi nỗi lo âu khốn khó của chúng ta khi chúng ta trò chuyện với Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi.
Sách Mầu Nhiệm Maria có viết: “Mỗi Kinh Kính Mừng là một lời ngợi khen, tôn vinh, chúc tụng Thiên Chúa, cùng đền tạ tình yêu Thiên Chúa đã ban cho loài người trong công cuộc Nhập Thể, Cứu Chuộc của Thiên Chúa Ngôi Hai trong cung lòng Mẹ Maria. Ngợi khen, chúc tụng, tôn vinh Thiên Chúa và tình yêu Người đã thể hiện nơi Ngôi Hai trong cung lòng Ðồng Trinh Mẹ Maria, đền tạ tình yêu Thiên Chúa trong sự nhận biết Thiên Chúa yêu dấu loài người trong Ngôi Hai. Ý nghĩa này phù hợp với sự tỏ Trái Tim Tình Yêu của Chúa cho nhân loại, nghĩa là nhận biết Thiên Chúa yêu chúng ta vô cùng trong Con Cực Thánh Người”.
Và đó là lý do vì sao khi dùng chuỗi Mân Côi gọi điện cho Mẹ với tâm tình con thảo, chúng ta sẽ đón nhận được sự bình an trước mọi khốn khó, được bảo vệ để tránh mọi sự dữ và cám dỗ.
Lạy Mẹ Mân Côi, mỗi Kinh Kính Mừng là một lời ngợi khen, chúc tụng, đền tạ tình yêu Thiên Chúa, Kinh Mân Côi là vũ khí giúp chúng con tự vệ trước mọi sự dữ, vì thế xin cho chúng con biết thường xuyên “gọi điện” cho Mẹ bằng chuỗi Mân Côi như một phương thế hữu hiệu, để chúng con nhận được sự trợ giúp, chở che của Mẹ trên đường đời đầy chông gai này. Amen
Bình Minh
Vietnamese Radio Veritas Asia

MENU

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI CÚI MẸ NÚI CÚI HÀNH HƯƠNG TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN GIÁO PHẬN TƯ LIỆU NÚI CÚI CẦU NGUYỆN LIÊN HỆ
Hành hương
Hiệp ý
Menu
Thông báo
Đăng ký
Facebook Zalo TikTok YouTube
ĐĂNG KÝ