Công Cuộc Truyền Giáo Của Hai Giám Mục Tiên Khởi tại Giáo Hội Việt Nam

cong cuoc truyen giao cua hai giam muc tien khoi tai giao hoi viet nam 1

(DMNC) Công cuộc truyền giáo của hai giám mục tiên khởi tại giáo hội việt nam

+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục Gp. Phan Thiết

cong cuoc truyen giao cua hai giam muc tien khoi tai giao hoi viet nam 1

Mục lục

DẪN NHẬP

  1.     Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha
  2.     Đường Hướng Của Toà Thánh
  3.     Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam

Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC

  1.     ĐỨC CHA LAMBERT
  2.         Các Cuộc Kinh Lý
  3.         Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương
  4.         Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ
  5.         Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá
  6.     ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU
  7.         Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Nhất (1665 – 1673)
  8.         Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Hai (1674 – 1681)

III. HAI CÁI CHẾT LÀNH THÁNH

  1.         Đức Cha Lambert
  2.         Đức Cha François Pallu
  3.     TÓM LẠI

PHẦN II. HƯỚNG TỚI VIỆC PHONG THÁNH CHO HAI VỊ GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI VIỆT NAM

  1.     “Chứng Từ Lịch Sử Trên Văn Bản”: do Nhóm chuyên viên phụ trách
  2.     “Chứng Từ Lịch Sử Sống Động”
  3.         Chứng Nhân Tử Đạo
  4.         Một Giáo Hội Trên Đà Trưởng Thành
  5.         Gia Đình Mến Thánh Giá

III. Phúc Lành Của Thiên Chúa qua các phép lạ

KẾT LUẬN

DẪN NHẬP

“Phần các Giám mục, các ngài được Chúa Thánh Thần cắt cử để kế vị các Tông đồ làm mục tử chăn dắt các linh hồn, đồng thời, hợp nhất với Đức Giáo hoàng và dưới quyền ngài, các Giám mục được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Sắc lệnh Giám mục, Christus Dominus số 2 – 28/10/1965)

1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha

Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam thời kỳ đầu được thực hiện chủ yếu bởi Dòng Tên dưới quyền bảo trợ của người Bồ Đào Nha. Các nhà truyền giáo đã gặt hái được những thành công đáng kể: số tín hữu gia tăng với tinh thần sống đạo sốt sắng, Hội Thầy giảng được thành lập, khai mở nền văn chương Công giáo trên đất Việt, v.v…. Tuy nhiên, những cuộc bách hại Đạo và việc trục xuất các thừa sai ngoại quốc, cùng với những cản trở từ phía Chế độ Bảo trợ luôn là những thách đố lớn cho công việc truyền giáo tại đây.

Theo thỉnh nguyện của cha Đắc Lộ được đệ trình lên Toà thánh sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1645, ngài nhấn mạnh hai đề xuất chính:

– Do tình trạng thiếu linh mục để chăm sóc các tín hữu, nâng đỡ họ trong những cuộc bách hại, xin Toà thánh sớm gởi các Giám mục qua để thành lập hàng Giáo phẩm địa phương, đào tạo và phong chức các linh mục bản xứ;

– Ban đầu, ngài dự định xin Đức Thánh cha bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa, nhưng khi hiểu được kế hoạch của Tòa thánh trong chương trình gửi các Giám mục Đại diện Tông tòa, để tránh rắc rối với Chế độ Bảo trợ, cha Đắc lộ đệ trình một bản ‘ghi nhớ’ xin gửi Giám mục in partibus (trong phần đất dân ngoại) và không cần cho Vua Bồ Đào Nha biết[1].

2. Đường Hướng Của Toà Thánh

Dù phải công nhận rằng Chế độ Bảo trợ có những đóng góp nhất định cho công cuộc truyền giáo chung, nhưng Toà thánh ngày càng nhận ra những bất cập, lạm dụng, thậm chí trở thành những khó khăn và nguy hại, nhất là khi các vua chúa đặt quyền lợi chính trị và kinh tế lên hàng đầu.

Để thoát ra khỏi tình trạng trên, Toà thánh muốn trực tiếp đảm trách và điều hành công cuộc truyền giáo qua việc thiết lập Thánh bộ Truyền bá Đức Tin vào năm 1622. Từ đây, đường hướng truyền giáo ở các nơi đều phải tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Bộ, cụ thể qua Huấn Thị năm 1659 trao cho hai Giám mục đầu tiên được gửi đến Đàng Ngoài, Đàng Trong và Trung Hoa[2].

Riêng đối với công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, ngày 13.05.1658, Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin đề nghị bổ nhiệm hai cha François Pallu và Pierre Lambert làm giám mục và được Đức Thánh cha Alexandre VII phê chuẩn ngày 08.06.1658. Một năm sau, ngày 09.09.1659, ngài ký Sắc chỉ Super Cathedram thiết lập hai Địa phận Tông toà: trao cho Đức cha François Pallu cai quản Đàng Ngoài, năm tỉnh của Trung Hoa: Vân Nam, Quý Châu, Hồ Quảng (nay là Hồ Nam, Hồ Bắc), Quảng Tây, Tứ Xuyên, và nước Lào; tiếp đến trao cho Đức cha Pierre Lambert cai quản Đàng Trong và một số vùng của Trung Hoa: Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Giang Tây và đảo Hải Nam[3].

Thánh Bộ còn gửi cho hai tân Giám mục bản Huấn Thị khá chi tiết với những điểm đáng chú ý ở phần III như:

+ Thiết lập Hàng Giáo sĩ bản địa qua việc phong chức linh mục cho người địa phương;

+ Cẩn trọng trong việc phong chức giám mục; không tự tiện làm nhưng phải thỉnh ý và chờ sự chấp thuận của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin;

+ Mở trường học, dạy tiếng La tinh và Giáo lý để từ đó có thể tìm ra các ơn gọi linh mục;

+ Hội nhập văn hoá;

+ Không can dự vào chính trị;

+ Giữ liên hệ chặt chẽ với Toà Thánh[4].

Tòa thánh cũng bổ nhiệm Cha Cotolendi làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Nam Kinh (Trung Hoa). Ngài được tấn phong Giám mục ngày 07.11.1660, hiệu tòa Métellopolis và lên đường truyền giáo ngày 03.9.1661 nhưng không may đã từ trần tại Ấn Độ ngày 26.08.1662[5]. Vì thế, chỉ còn hai vị Đại diện Tông Tòa đảm trách công cuộc truyền giáo vùng Viễn Đông.

3. Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam

Đức Cha Pierre Lambert de la Motte sinh ngày 28.01.1624 tại Lisieux vùng Normandie nước Pháp, trong một gia đình thuộc giai cấp thượng lưu, giàu sang. Lớn lên, ngài học ngành luật và hành nghề luật sư, sớm trở thành thẩm phán, khi mới 22 tuổi, với phép miễn tuổi của Vua Louis XIV. Được thúc đẩy bởi ơn gọi linh mục, ngài theo chương trình thần học và được thụ phong linh mục ngày 27.12.1655. Đức cha Pierre Lambert được bổ nhiệm làm Giám mục và thụ phong ngày 11.06.1660 tại Paris với hiệu toà Bérithe. Ngài đã dâng cúng tài sản mình để lo cho chương trình truyền giáo Viễn Đông được tiến hành nhanh chóng[6].

Ngày 27.11.1660, Đức Cha Pierre Lambert và hai linh mục thừa sai rời Pháp lên đường sang Việt Nam, không theo hành trình đường biển dành cho các thừa sai được Vua gửi đi, nhưng theo lộ trình mà Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin đề nghị: “Hành trình đất liền xuyên qua xứ Syria và vùng Mésopotamia sẽ an toàn cho chư huynh hơn nhiều so với đường biển Đại Tây Dương và mũi Hảo Vọng”[7]. Sau chuyến đi đầy gian nan vất vả, phái đoàn đã tới Ayutthaya ngày 22.08.1662. Ngài chưa thể đến Đàng Trong được vì lúc đó đang có cuộc bách hại dữ dội.

Đức Cha François Pallu chào đời năm 1626[8] tại thành phố Tours, nước Pháp, trong gia đình quý tộc và vị vọng. Ngài được rửa tội ngày 31.08.1626. Sau khi học xong chương trình ở chủng viện, ngài thụ phong Linh mục vào tháng 09.1650 và tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ dân luật và giáo luật. Đức cha François Pallu được thụ phong Giám mục ngày 17.11.1658 tại Rôma với hiệu toà Héliopolis.

Đức cha Pallu là thành viên Nhóm Bạn Hiền và Hiệp hội Thánh Thể, là những tổ chức góp phần vận động Toà thánh gởi các Giám mục sang Việt Nam và Trung Hoa cũng như hỗ trợ cho việc hình thành Chủng viện Thừa sai Paris[9].

Ngày 02.01.1662, Đức cha Pallu rời Pháp đi Việt Nam với bảy linh mục và hai giáo dân bằng con đường bộ. Sau hai năm, ngày 27/01/1664 phái đoàn của ngài đã tới được kinh đô Ayutthaya, nhưng chỉ còn hai linh mục và một giáo dân[10].

Hai tâm hồn – một chí hướng:

Khi còn là linh mục, Đức cha François Pallu và Pierre Lambert gặp nhau và trở thành đôi bạn thân trong kế hoạch truyền giáo tại Rôma vào năm 1657. Các ngài đã cùng soạn ra một chương trình để thỉnh xin Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cho lập một chủng viện chuyên lo việc truyền giáo Đông Nam Á[11]. Đó là bước khởi đầu của chủng viện Hội Thừa Sai Paris.

Sau khi được Toà Thánh bổ nhiệm trong chức Giám mục và lãnh trách nhiệm trên hai Địa phận của Việt Nam, với tâm hồn đạo đức và đầy nhiệt huyết của vị tông đồ truyền giáo, hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert luôn cộng tác tích cực với nhau trên hành trình truyền giáo với tinh thần liên đới trách nhiệm. Các ngài đã sống và chết cho sứ vụ được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong tình say mến Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh.

Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC

I. ĐỨC CHA LAMBERT

1. Các Cuộc Kinh Lý

Trên hành trình sang Việt Nam, hai Đức cha Pierre Lambert và François Pallu không thể đến địa sở của mình được vì đang có cuộc bách hại lớn. Các ngài phải dừng chân ở Ayutthaya, Thái Lan và điều hành công việc quản trị từ xa. Riêng Đức cha Lambert, ngài đã thực hiện được ba cuộc kinh lý mục vụ sang Việt Nam nhằm củng cố và phát triển hai Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài.

  1. Kinh Lý Đàng Ngoài (1669 – 1670)

Miền truyền giáo Đàng Ngoài thuộc trách nhiệm của Đức cha François Pallu. Nhưng vì nhiều lý do, ngài đã không thể đến Đàng Ngoài được. Từ ngày 30.08.1669 đến ngày 14.03.1670, Đức cha Lambert thay mặt Đức cha Pallu kinh lý mục vụ miền truyền giáo Đàng Ngoài. Trong chuyến đi này, bên cạnh việc thăm viếng và rửa tội cho giáo dân, Đức cha đã thực hiện được 4 việc quan trọng[12]:

+ Phong chức linh mục cho bảy thầy giảng Đàng Ngoài (1670) trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Toà tiên khởi của Giáo hội Việt Nam;

1) Thầy Martinô Mật (68 tuổi)

2) Thầy Giacôbê Chiêu (46 tuổi)

3) Thầy Simon Kiên (60 tuổi)

4) Thầy Antôn Quế (56 tuổi)

5) Thầy Philipphê Nhân (52 tuổi)

6) Thầy Lêô Trụ (46 tuổi)

7) Thầy Vitô Trị (30 tuổi)[13]

+ Tổ Chức Công đồng Phố Hiến (14.02.1670);

+ Thành lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá.

+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài.

  1. Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ nhất (1671 – 1672)

Ngày 20.07.1671, Đức cha Lambert thực hiện chuyến kinh lý Đàng Trong cùng với hai thừa sai Pháp là Guillaume Mahot va Claude Guiart và hai linh mục người Đàng Trong là Giuse Trang và Luca Bền. Sau hơn một tháng vượt biển đầy gian nan do bão tố và hải tặc, thuyền của Đức cha đã cập bến Nha Trang ngày 31.08.1671 (sợ bị lộ diện, ngài vẫn ở trong thuyền, tối hôm sau, tín hữu kín đáo đưa ngài đến Lâm Tuyền, một xóm chài nhỏ; sau đó ra An Chỉ, Quảng Ngãi). Ở đây, Đức cha Lambert đã thực hiện những công cuộc quan trọng[14]:

+ Thăm viếng các giáo điểm, ban các Bí tích và gặp gỡ các chức sắc và giáo dân;

+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong (tại xứ An Chỉ, Quảng Ngãi);

+ Tổ chức Công đồng Hội An (năm 1672).

  1. Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ Hai (1675 – 1676)

Ngày 23.07.1675 (ba năm sau), Đức cha Lambert và hai linh mục thừa sai trở lại Đàng Trong lần thứ hai. Các công việc của Đức cha trong chuyến kinh lý này gồm có[15]:

+ Dành nhiều thời gian tiếp đón các linh mục, giáo dân đến với ngài, giải quyết các vấn đề mục vụ và ban các Bí tích cho đoàn chiên;

+ Nhận lời khấn của các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên tại Đàng Trong;

+ Phong chức linh mục cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi;

+ Giải quyết những mâu thuẫn giữa các vị thừa sai thuộc Chế Độ Bảo Trợ với các vị Đại diện Tông Toà;

+ Gởi sứ điệp kêu gọi các Giáo đoàn hiệp nhất với nhau và phục quyền vị chủ chăn hợp pháp.

2. Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương

  1. Công Đồng Ayutthaya

Trong thời gian hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert ở Thái Lan, các ngài đã tổ chức Công đồng Ayutthaya[16], khai mạc ngày 29.02.1664 với tám thành viên, gồm hai Giám mục, năm linh mục và một giáo dân.

Công đồng đã thảo luận và quyết định ba việc quan trọng, đó là:

+ Soạn thảo “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”, còn gọi là Huấn Thị Ayutthaya hoặc Monita

+ Xây dựng chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông;

+ Lập Hội Tông Đồ gồm các thừa sai và giáo dân.

  1. Công Đồng Phố Hiến

Trong chuyến kinh lý Đàng Ngoài, ngày 14.02.1670, Đức cha Lambert triệu tập Công đồng Phố Hiến[17] gồm chính ngài, ba linh mục thừa sai và chín linh mục Việt Nam. Nghị quyết gồm 34 điều với những điểm chính:

+ Ấn định vùng trách nhiệm cho mỗi linh mục bản quốc;

+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng;

+ Lập quỹ chung để trang trải các nhu cầu mục vụ và lo cho người nghèo;

+ Khuyến khích các linh mục bản xứ nuôi dạy các thiếu niên đạo đức để gởi vào chủng viện;

+ Kêu gọi các linh mục quản xứ quan tâm đặc biệt đến các nữ tu Mến Thánh Giá;

+ Khuyến khích giáo dân tập suy gẫm chung và riêng; đồng thời giới thiệu những người thích hợp vào Hiệp hội Mến Thánh Giá Tại Thế.

+ Quyết định nhận Thánh Giuse làm bổn mạng Giáo hội Đàng Ngoài.

  1. Công Đồng Hội An

Trong chuyến kinh lý Đàng Trong, ngày 19.01.1672, tại Hội An[18], Đức cha Lambert khai mạc Công đồng với sự hiện diện của ba vị thừa sai Châu Âu, hai linh mục bản xứ và một số thầy giảng. Công đồng thông qua một nghị quyết gồm mười điều với những vấn đề chính như:

+ Công bố các sắc dụ của Toà Thánh về quyền bính các Đại diện Tông Toà mà mọi thành phần Dân Chúa phải tùng phục;

+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng và ban Quý chức trong giáo xứ;

+ Nhắc lại một vài quy tắc về đời sống hôn nhân;

+ Kêu gọi tín hữu can đảm tuyên xưng đức tin ra bên ngoài (điều này xây dựng niềm tin mạnh mẽ để lãnh phúc tử đạo sau này).

3. Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ

  1. Xây Dựng Chủng Viện Ayutthaya

Việc đào tạo và thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ là một trong những sứ mạng quan trọng mà Toà thánh mong đợi hai vị Giám mục thực hiện ở miền truyền giáo Viễn Đông.

Công đồng Ayutthaya (1664) đã quyết định thành lập một chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông nhằm đào tạo các ứng sinh linh mục tương lai do các nước trong khu vực này gởi về.

Năm 1665, Đức cha Lambert đã tiến hành xây dựng một chủng viện tại Ayutthaya và bắt đầu chương trình đào tạo linh mục ngay khi hoàn tất[19]. Đây là nơi đào tạo nhiều linh mục Việt Nam sau này.

  1. Thiết Lập Hàng Giáo Sĩ Địa Phương

Chỉ vài năm sau khi xây dựng chủng viện tại Ayutthaya, Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho các chủng sinh đầu tiên vào năm 1668, trong đó có cha Giuse Trang từ Đàng Trong qua (Cha Giuse Trang là linh mục người Việt đầu tiên). Sau đó vào tháng Sáu cùng năm, Đức cha truyền chức linh mục cho hai thầy giảng người Đàng Ngoài là Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ. Đầu năm 1669, sau một lần tìm cách sang Đàng Trong không thành, Đức cha Lambert truyền chức linh mục cho thầy Luca Bền, người Đàng Trong.

Vì không thể đến được Việt Nam, Đức cha Lambert luôn nhắc nhở các cha Tổng Đại diện, các vị thừa sai Tông toà phải quan tâm đến việc quy tụ và huấn luyện các thầy giảng, dạy tiếng Latinh, và chuẩn bị cho họ chịu chức linh mục. Các ngài thường chọn những thầy giảng xuất sắc và gởi sang Thái Lan cho Đức cha Lambert phong chức linh mục.

Nhân chuyến viếng thăm Đàng Ngoài, tháng 01.1670, Đức cha Lambert phong chức linh mục cho bảy thầy giảng trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Tòa.

Cũng vào dịp đi kinh lý Đàng Trong lần thứ hai, ngài cũng phong chức cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi vào ngày 21.03.1676. Cha Louis Đoan được xem là tác giả cuốn Sấm Truyền Ca, viết bằng chữ Nôm năm 1670, với bút hiệu là Lữ Y Đoan.

Với việc phong chức linh mục cho các thầy giảng, Đức cha Lambert đã khai sinh ra hàng giáo sĩ Việt Nam, mở đầu cho bao thế hệ linh mục tiếp nối. Các linh mục là những trụ cột vững chắc của Giáo hội Việt Nam, là chỗ dựa tinh thần cho các tín hữu trong những thời điểm khó khăn nhất[20].

4. Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá

  1. Hiệp Hội Nam Nữ Tín Hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa Chúng Ta

Sớm nhận ra vai trò chứng tá của người giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng, Đức cha Lambert đã lập ra “Hiệp hội Nam Nữ Tín hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” tại Ayutthaya, Thái Lan vào năm 1668, và tại Đàng Ngoài, Việt Nam vào năm 1669-1670. Mục đích của Hiệp hội là “để thôi thúc các tín hữu khắp nơi hướng tới tình yêu thực tiễn đối với Thánh giá Con Thiên Chúa” trong đời sống đạo đức của họ[21].

  1. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài

Khi đến Đàng Ngoài, Đức cha Lambert được cha Deydier giới thiệu hai nhóm thiếu nữ và một số bà góa muốn sống chung với nhau, có thể tập hợp gần 30 người[22]. Họ đã được cha Deydier dạy dỗ hướng dẫn từ lâu trên đường nhân đức. Sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng, Đức cha quyết định thành lập Dòng Mến Thánh Giá, qua việc đích thân nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi Anê và Paula tại Phố Hiến ngày 19.02.1670, và trao cho hai chị Bản Luật do ngài soạn thảo sẵn. Đó là ngày khai sinh Dòng Nữ Mến Thánh Giá Việt Nam[23].

  1. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong

Tại An Chỉ – Quảng Ngãi, vào tháng 12.1671, Đức cha Lambert chính thức thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá với mười chị tiên khởi (trong đó có em gái của cha Giuse Trang được đặt làm Bề trên đầu tiên; lúc ấy chị khoảng 30 tuổi). Ngài trao cho chị em một Bản Luật giống như ở Đàng Ngoài. Vì tình hình khó khăn, Đức cha cho phép các chị mặc thường phục như các phụ nữ địa phương[24].

Trong chuyến kinh lý lần hai, Đức cha đã tới thăm các chị em Mến Thánh Giá ở Quảng Ngãi và nhận lời khấn của bốn nữ tu tại Bàu Tây (Quảng Ngãi) vào ngày 13.12.1675 và một nữ tu thuộc nhà An Chỉ, ngày 18.12.1675[25].

  1. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Thái Lan

Năm 1672, tại Ayutthaya, Thái Lan, Đức cha Lambert lập một Dòng Mến Thánh Giá với 4 hay 5 nữ tu đầu tiên là Việt kiều gốc Đàng Trong[26].

II. ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU

Cũng giống như Đức cha Lambert, Đức cha François Pallu không thể đến được Địa phận Đàng Ngoài vì cuộc bách hại đạo dữ dội. Thiên Chúa nhân lành đã muốn cho ngài thi hành sứ vụ theo một cách riêng. Đức cha Pallu còn phải thực hiện những chuyến đi về giữa Âu – Á trong nhiều năm để xin sự chuẩn nhận của Toà Thánh cho các hoạt động khởi đầu của Giáo hội Việt Nam cũng như vận động thêm nhiều nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo Viễn Đông.

1. Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Nhất (1665 – 1673)[27]

Sau khi kết thúc Công đồng Ayutthaya, hai Đức cha thấy rằng những quyết định này cần phải được sự chuẩn nhận sớm của Toà thánh. Thay vì trao đổi qua thư từ chiếm nhiều thời gian, các kế hoạch sẽ được xúc tiến nhanh hơn nếu một trong hai vị trở lại Rôma để trình bày trực tiếp lên Toà thánh; đồng thời cũng cho Toà Thánh hiểu được rõ nét những khó khăn mà các vị Đại diện Tông Toà đang gặp phải. Đức cha Pallu đã tự nguyện quay trở lại Châu Âu vì cảm thấy sức khoẻ tốt hơn.

Đức cha Pallu trao quyền điều hành Đàng Ngoài cho Đức cha Lambert, ngày 17.01.1665, ngài lên đường về lại Châu Âu và đến Rôma, ngày 20.4.1667.

Tại Rôma, những đệ trình của Đức cha Pallu được Thánh Bộ cứu xét cẩn thận. Năm 1669, Toà thánh đưa ra quyết định:

+ Chấp thuận, đánh giá rất cao, tài trợ kinh phí in ngay tại Roma[28] bản “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”;

+ Tán thành việc lập chủng viện chung cho cả vùng truyền giáo Viễn Đông;

+ Đặt Xiêm La dưới quyền cai quản của các Giám mục Pháp. Các ngài có thể tiếp nhận và huấn luyện các linh mục cho vùng Viễn Đông;

+ Không đồng ý việc duy trì Hội Tông Đồ.

Ngày 13.09.1669, Toà Thánh ban hành sắc lệnh Speculatores, chỉ thị cho mọi thừa sai khi tới các địa sở của các vị Đại diện Tông Toà phải trình bày bài sai riêng của mình và vâng phục các ngài; nếu không, sẽ bị vạ tuyệt thông.

Trong chuyến đi này, Đức cha Pallu nỗ lực tìm kiếm thêm nhân sự cũng như nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo.

Ngày 03.02.1670, Đức cha Pallu trở lại Châu Á, với sáu linh mục và bốn giáo dân. Tại Surate – Ấn Độ, sau khi nhận được tin tức, bản ký sự về chuyến đi Đàng Ngoài của Đức cha Lambert (1669-1670), Đức cha Pallu quyết định gửi Cha Charles Sevin quay về Pháp và Rôma, đệ trình hồ sơ xin Toà Thánh phê chuẩn các quyết định của Công đồng Phố Hiến và Tu hội nữ Mến Thánh Giá. Ngày 27.5.1673, Đức cha Pallu tới Ayutthaya.

Trong Đoản sắc Apostolatus Officium (được ban hành ngày 23.12.1673), Đức Giáo hoàng đã xác nhận Công đồng Phố Hiến.

2. Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Hai (1674 – 1681)[29]

Ngày 21.08.1674, Đức cha Pallu từ biệt Đức cha Lambert tại Ayutthaya để lên đường sang Đàng Ngoài. Nhưng tàu của ngài bị bão đánh dạt cảng Cavite, Philippines. Đức cha và thuỷ thủ đoàn bị chính quyền Tây Ban Nha bắt giữ và giải về kinh đô Manila với tội danh “đi truyền giáo mà không có phép của triều đình Tây Ban Nha”.

Ngày 04.04.1675, chính quyền Manila đưa Đức cha Pallu về Madrid, Tây Ban Nha để xét xử, và ngài được tuyên bố trắng án. Rời Madrid, Đức cha Pallu sang Pháp rồi từ đó đi Rôma.

Thời gian ở Rôma, Đức cha Pallu luôn bận rộn với việc làm các bản tường trình, thỉnh nguyện để trình lên Toà thánh, cách riêng về hai vấn đề của Giáo hội Việt Nam: sự chống đối của Chế Độ Bảo Trợ truyền giáo Bồ Đào Nha; thứ hai là thái độ không vâng phục Toà Thánh nơi các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha.

Ba năm ở Rôma, Đức cha Pallu thỉnh nguyện được hai mươi hai sắc lệnh của Toà thánh; Ngài cũng trình bày lên Toà thánh về Dòng nữ và Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert thành lập. Ngày 02.01.1679, Đức Giáo hoàng Innôxentê XI đã ban Tông thư Cum Sicut công nhận các tổ chức Mến Thánh Giá.

Nhờ hoạt động của Đức cha Pallu tại Rôma, ngày 25.11.1679, Toà thánh đã bổ nhiệm cha Deydier[30] và cha Bourges[31] làm Giám mục và Đại diện Tông toà xứ Đàng Ngoài. Ngài cũng được Toà Thánh chấp thuận cho từ chức Đại diện Tông toà Đàng Ngoài, và được bổ nhiệm làm Đại diện Tông toà xứ Phúc Kiến với quyền giám quản một số tỉnh ở Trung Hoa.

Ngày 25.03.1681, Đức cha Pallu rời Pháp đi Thái Lan và đến nơi ngày 04.7.1682. Ngài ở lại Ayutthaya một năm rồi lại tiếp tục đến Giáo phận Phúc Kiến, địa sở mới của ngài vào ngày 14.01.1684.

III. HAI CÁI CHẾT LÀNH THÁNH

1. Đức Cha Lambert

Trở lại Thái Lan vào giữa tháng 05.1676, sức khoẻ của Đức cha Lambert kém dần. Chứng bệnh đường ruột và sạn thận hành hạ khiến Đức cha đau đớn nhiều.

Vào những ngày cuối đời, Đức cha muốn dành thời gian yên tĩnh để cầu nguyện và kết hợp mật thiết với Chúa Kitô Chịu-Đóng-Đinh.

Khoảng 4 giờ sáng ngày 15.06.1679, Đức cha Pierre Lambert de la Motte đã an nghỉ lành thánh trong Chúa tại Ayutthaya (55 tuổi)[32].

2. Đức Cha François Pallu

Lúc 03 giờ 30 sáng Chúa nhật ngày 29.10.1684, Đức cha François Pallu nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng tại Giáo phận Phúc Kiến, Trung Hoa với tuổi đời 58[33].

IV. TÓM LẠI

Trong công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo hội Việt Nam, những hoạt động của Đức cha Pierre Lambert và Đức cha François Pallu là một sự kết hợp hài hoà, không thể tách rời nhau. Nếu như Đức cha Lambert chuyên về hoạt động để xây dựng và củng cố Giáo hội về mặt thể chế, phẩm trật, đời sống, thì Đức cha Pallu đảm nhận vai trò kết nối giữa Toà Thánh với Việt Nam. Nhờ ngài, các hoạt động của Đức cha Lambert được Toà Thánh chuẩn nhận và hướng dẫn hành động. Nhờ vậy, dù trải qua nhiều thời kỳ chia cắt, Giáo hội Việt Nam vẫn hiệp nhất và thống nhất.

Hương thơm nhân đức của hai vị Giám mục Tiên Khởi được toả ra từ : (1) đời sống thánh thiện của các ngài; (2) hoa trái thánh thiện mà các ngài để lại[34].

  1. Đời sống thánh thiệncủa các ngài được thể hiện qua quyết tâm chu toàn Thánh Ý Chúa qua bổn phận được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, phức tạp, trong sự đan xen giữa tôn giáo, chính trị và kinh tế. Đồng thời, tìm mọi cách củng cố, động viên các thừa sai và cộng đoàn Kitô giáo giữ vững niềm tin, kiên trung trong mọi thử thách và bách hại. Hai ngài đã sống và chết cho sứ mạng truyền giáo và xây dựng 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên tại Việt Nam.

Điều này đã được thực hiện qua một đường hướng truyền giáo hết sức rõ ràng và cụ thể với 3 điểm nhấn:

+ Nền tảng của việc truyền giáo và xây dựng Giáo hội là “Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh”;

+ Luôn hiệp thông với Tòa Thánh và tuân theo những hướng dẫn của Tòa Thánh;

+ Mời gọi và nối kết mọi thành phần Dân Chúa để xây dựng Giáo hội, xây dựng Giáo phận: linh mục (thành lập Chủng viện), nữ tu (lập Dòng Mến Thánh Giá), giáo dân (lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá);

  1. Hoa trái thánh thiệncủa các ngài để lại chính là Giáo hội Việt Nam:

+ Với hơn 100.000 tử đạo gắn bó với Thập giá Chúa Giêsu;

+ 27 giáo phận với các chủng viện đào tạo linh mục;

+ 30 Hội Dòng Mến Thánh Giá;

+ Các Hiệp Hội Tín hữu Mến Thánh Giá.

Như vậy, khi “được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Christus Dominus 2), Đức cha Pallu và Đức cha Lambert đã cộng tác tích cực với nhau để “xây dựng Thân Thể Chúa Kitô” (Ep 4,12) là Giáo Hội” (Christus Dominus 1) tại Việt Nam.

PHẦN II. HƯỚNG TỚI VIỆC PHONG THÁNH CHO HAI VỊ GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI VIỆT NAM

Việc xin phong Chân phước và phong Thánh cho hai vị Đại diện Tông toà đầu tiên của Việt Nam, Đức Cha François Pallu và Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, là thao thức mong mỏi chung của Hội đồng Giám mục và đặc biệt của các Nữ tu Dòng Mến Thánh Giá. Thao thức này đang được thực hiện qua việc nỗ lực tìm kiếm, sưu tầm, viết lại các chứng từ sống động liên quan đến Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu để hoàn tất bộ hồ sơ xin phong thánh.

Các chứng từ về các ngài bao gồm:

I. “Chứng Từ Lịch Sử Trên Văn Bản”: do Nhóm chuyên viên phụ trách

  1. Thủ bản của Đức cha Lambert và của Đức cha Pallu
  2. Các linh mục thừa sai đương thời với hai Giám mục viết về các ngài.
  3. Các sử gia đương thời, các sử gia uy tín hay những luận án tiến sĩ, thạc sĩ… về các ngài.

II. “Chứng Từ Lịch Sử Sống Động”

Đức cha Lambert và Đức cha Pallu đã xây dựng Giáo hội Việt Nam trên những nền tảng chung, cả về thể chế tổ chức và về tinh thần lẫn phương thức sống đạo. Hai Đức cha đã hết mình sống và chết cho sứ mạng loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo hội tại Việt Nam. Sự hy sinh của hai ngài đã và đang sinh hoa kết trái là một Giáo hội ngày càng trưởng thành đi lên trong dòng máu anh hùng của các chứng nhân đức tin. Có rất nhiều dấu tích của các ngài trong đời sống của Giáo hội Việt Nam suốt 350 năm qua.

1. Chứng Nhân Tử Đạo

Lịch sử Giáo hội Việt Nam ghi nhận hàng trăm ngàn Kitô hữu được phúc tử đạo, trong đó có 117 vị được nâng lên bậc hiển thánh và 1 chân phước Anrê Phú Yên. Một số Giáo phận hiện nay vẫn đang tiếp tục làm hồ sơ xin phong thánh cho các vị tử đạo trong Giáo phận của mình.

2. Một Giáo Hội Trên Đà Trưởng Thành

Trải qua 350 năm, từ 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên, giờ đây Giáo hội Việt Nam đang trên đà phát triển, gồm :

+ 3 Giáo tỉnh với 27 Giáo phận: Trên 120 Giám mục được tấn phong, trong đó có 6 vị nhận tước Hồng y;

+ Hơn 4.000 Linh mục;

+ 11 Đại Chủng viện với 2.803 chủng sinh trong niên khóa 2021-2022.

+ Khoảng 310 Dòng tu với tổng số tu sĩ gần 35.000;

+ Trên 4.500 Giáo xứ với khoảng hơn 7 triệu Giáo dân;

3. Gia Đình Mến Thánh Giá

+ 24 Hội dòng Mến Thánh Giá trong nước và 6 Hội dòng Mến Thánh Giá ở nước ngoài;

+ Khoảng 10.000 nữ tu và gần 1.000 tập sinh, với sự liên kết “đặc biệt” giữa Hội dòng Mến Thánh Giá và mỗi Giáo phận. Hầu hết các Giáo phận đều có lập Dòng Mến Thánh Giá. Và rất nhiều giáo xứ có cộng đoàn Nữ tu Mến Thánh Giá hiện diện và phục vụ trong giáo xứ.

+ Trên 15.000 hội viên Tín Hữu Mến Thánh Giá. Hiệp hội này luôn là cánh tay nối dài của Dòng Nữ Mến Thánh Giá trong cuộc sống để làm dậy men Phúc Âm ngay trong lòng giáo xứ của họ.

Quy tụ mọi thành phần dân Chúa trong Đại gia đình Mến Thánh Giá, Đức cha Lambert ước muốn xây dựng một Giáo hội truyền giáo xuyên qua Linh đạo Thánh Giá, nhấn mạnh chiều kích truyền giáo của tình yêu Thánh Giá[35]. Đó là một Giáo hội canh tân vì mục đích Phúc Âm hóa, “đến nỗi thiên hạ nói về họ như xưa dân ngoại đã nói về Israel : Dân Thiên Chúa chính là đây”[36].

Một hình ảnh sống động về “hoa trái thánh thiện” của Đức cha Lambert de la Motte là chứng từ của các nữ tu Mến Thánh Giá khấn trọn hằng năm: quyết định “khấn trọn” là 1 hành vi thánh thiện. Đây là quyết định “dâng hiến trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa để phục vụ chương trình cứu độ của Ngài”. Mỗi năm có trên 200 nữ tu khấn trọn, thuộc 30 Hội Dòng Mến Thánh Giá. Những nữ tu này đã được tác động bởi “linh đạo Mến Thánh Giá” của Đức cha Lambert. Ngoài ra, còn có chứng từ của các nữ tu đã sống lâu năm trong dòng Mến Thánh Giá: đặc biệt dịp kỷ niệm 25,50,60 năm khấn dòng với những chứng từ sống động được khơi nguồn từ Linh đạo Mến Thánh Giá. Điều này cho thấy linh đạo Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert khởi xướng vẫn đang sống động trong lòng GHVN.

III. Phúc Lành Của Thiên Chúa qua các phép lạ

Một điều phải có trong hồ sơ phong thánh đó là các phép lạ như là dấu chỉ phúc lành đến từ thiên Chúa. Ước mong rằng sẽ có những người nhận được “phép lạ” qua sự chuyển cầu của 2 Giám mục tiên khởi François Pallu và Pierre Lambert de la Motte.

KẾT LUẬN

Ghi khắc công ơn của Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu, Giáo hội Việt Nam luôn ao ước sớm thấy các ngài được vinh hiển trong hàng ngũ các thánh. Đây là công việc chung của cả Giáo hội Việt Nam. Công việc này rất cần sự đóng góp của nhiều thành phần: (1) Các chuyên viên; (2) Mọi thành phần Dân Chúa : các Giám mục, các Linh mục, các Đại Chủng viện, các Hội Dòng Mến Thánh Giá và anh chị em Giáo dân, nhất là các Hiệp Hội Mến Thánh Giá Tại Thế.

Ước mong rằng vào năm 2034, kỷ niệm 375 năm Giáo hội Việt Nam được chính thức hình thành với sự bổ nhiệm hai Giám mục tiên khởi François Pallu và Lambert de la Motte[37], chúng ta sẽ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa cách đặc biệt vì hồng ân đức tin mà Thiên Chúa đã ban tặng. Niềm vui này sẽ được tròn đầy hơn nếu hai vị Giám mục đầu tiên được tôn vinh qua cuộc đời “thánh thiện, hy sinh trọn vẹn” để chu toàn nhiệm vụ Loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo hội Việt Nam trên niềm tin son sắt vào Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh, hầu mang ơn cứu độ cho nhân loại.

Nguyện xin Thiên Chúa nhân lành, qua lời chuyển cầu của Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu, chúc lành cho công việc tốt đẹp này sớm được hoàn thành.

WHĐ (22.10.2021)

Tài liệu tham khảo:

  1. P. LAMBERT DE LA MOTTE,Abrégé de Relation, AMEP, T. 121, T. 677 ; Journal 12/1675, AMEP, T. 877.
  2. Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin,Huấn thị 1659 dành cho các vị Đại diện Tông tòa đi đến các Vương quốc Trung Hoa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong.
  3. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,Tiểu Sử Đức cha François Pallu & Đức cha Pierre Lambert de la Motte, NXB Tôn Giáo, 2020.
  4. Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Lịch Sử Dòng Mến Thánh Giá, 2018.
  5. Đào Quang Toản,Đức Cha Pallu và Dòng Mến Thánh Giá, 2010.
  6. DEYDIER François, Thư gửi Đức cha Pallu, ngày 01.11.1667, AMEP, T. 677.
  7. Đỗ Quang Chính, SJ.,Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, 2005.
  8. FAUCONNET-BUZELIN Françoise,Người Cha bị lãng quên của công cuộc truyền giáo hiện đại, Pierre Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong, Nxb. Phương Đông, 2015.
  9. LAUNAY Adrien,Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, t. I, Les Indes Savantes, 2003.
  10. Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai,Sứ mạng liên tục của Chúa Giêsu, theo quan điểm của Đức cha Lambert de la Motte (1624-1679) và công cuộc canh tân việc Phúc Âm hóa tại Châu Á, 2018.
  11. Marie Fiat,Về với cội nguồn Giáo hội Việt Nam, 2009.
  12. MOUSSAY Gérard et APPAVOU Brigitte ,Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004), ordre alphabétique suivi de l’ordre chronologique, Paris, AMEP, 2004.
  13. VACHET Bénigne,Chuyện Đức Cha Lambert, chuyển ngữ: Cao Kỳ Hương, 2005.

[1] Đỗ Quang Chính, SJ., Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, Tp. HCM, 2005, tr. 55-56, 59-60.

[2] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Instructio vicariorum apostolicorum ad regna sinarum Tonchini et Cocincinae proficiscentium 1659 (Huấn thị 1659 dành cho các vị Đại diện Tông tòa đi đến các Vương quốc Trung Hoa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong).

[3] Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, t. I, Paris, Les Indes Savantes, 2003, tr. 41-43.

[4] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Huấn thị 1659, III: Tại nơi truyền giáo.

[5] Gérard Moussay et Brigitte Appavou, Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004), ordre alphabétique suivi de l’ordre chronologique, Paris, AMEP, 2004, tr. 50 (Trong lược sử của hai Cha đi cùng với Đức cha Cotolendi là Louis Chevreuil và Antoine Hainques, chúng ta cũng thấy ghi cùng một ngày, họ rời Paris ngày 06.01.1661, nhưng xuống tàu ở Marseille, vĩnh viễn rời nước Pháp, ngày 03.09.1661).

[6] Nhóm Nghiên cứu Linh đạo Mến Thánh Giá (NNCLĐMTG), Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, 2018, tr. 60.64.75.93.

[7] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Huấn thị 1659, II, 1: Lộ trình

[8] Gérard Moussay et Brigitte Appavou, Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères, tr. 52.

[9] Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Nxb. Tôn giáo, 2020, tr. 10.12.14.22.

[10] Françoise fauconnet-buzelin, Người Cha bị lãng quên của công cuộc truyền giáo hiện đại, Pierre Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong, Nxb. Phương Đông, 2015, tr. 347.

[11] Đào Quang Toản, Đức cha Pallu và Dòng Mến Thánh Giá, 2010, tr. 78.

[12] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 87-88.

[13] Pierre Lambert de la Motte, Abrégé de Relation (Giản yếu ký sự), AMEP, T. 677, tr. 204.

[14] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 89-90.

[15] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 150-156.

[16] Nt., tr. 113-118.

[17] Nt., tr. 139-141.

[18] Nt., tr. 145-148.

[19] Nt., tr. 115-116.

[20] Nt., tr. 116.133-134.136.138.155.

[21] Nt., tr. 119.

[22] François Deydier, Thư gửi Đức cha Pallu, ngày 01.11.1667 (AMEP, T. 677, tr. 27).

[23] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 170-173.

[24] Nt., tr. 185.

[25] P. Lambert de la Motte, Journal (Nhật ký) tháng 12/1675, AMEP, T. 877, tr. 574.

[26] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 187.

[27] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 34-39.

[28] Bénigne Vachet, Chuyện Đức cha Lambert, Cao Kỳ Hương chuyển dịch, Đào Quang Toản giới thiệu, 2013, tr. 38.

[29] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 39-46.

[30] Cha François Deydier sinh ngày 28/9/1634 tại Toulouse, Pháp; chịu chức linh mục ngày 23/4/1657. Cùng với Đức cha Lambert và Cha Bourges, ngài rời quê hương đi truyền giáo vào ngày 27/11/1660. Sau bốn năm ở Xiêm La, ngài được Đức cha Lambert gởi sang Đàng Ngoài vào năm 1666, và được tấn phong Giám mục trong căn nhà bếp của mình ở Phố Hiến vào đêm ngày 21/12/1682. Với tư cách Giám mục hiệu tòa Ascalon và Tổng Đại diện Đàng Ngoài, ngài dấn thân phục vụ Tin Mừng 27 năm và an nghỉ trong Chúa vào ngày 01/07/1693 tại Phố Hiến. Ngài là người lập Chủng viện Việt Nam đầu tiên cũng như góp phần xây dựng Hàng Giáo Sĩ và Dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam.

[31] Cha Jacques de Bourges sinh năm 1634 tại Pháp. Sau khi chịu chức linh mục ngài lên đường truyền giáo với Đức cha Lambert và Cha Deydier năm 1660. Sau đó, ngài được gởi sang Đàng Ngoài năm 1669 và được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài năm 1679, nhưng bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1713 và qua đời tại Thái Lan năm 1714, thọ 83 tuổi.

[32] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 96-99.

[33] Nt., 48-49.

[34] Phần này dựa trên những ý kiến của các Giám mục trong cuộc họp Thường Niên của HĐGMVN vào tháng 4.2021 tại Nha Trang, do tác giả ghi lại.

[35] Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai, Sứ mạng liên tục của Chúa Giêsu, theo quan điểm của Đức cha Lambert de la Motte (1624-1679) và công cuộc canh tân việc Phúc Âm hóa tại Châu Á, 2018, tr. 22. 454.

[36] P. Lambert de la Motte, Abrégé de Relation (Giản yếu ký sự), AMEP, T. 121, tr. 759.

[37] Theo Cha Maurice Vidal và Cha Laurent Villemin, hai chuyên viên Giáo hội học thuộc Viện Đại học Công Giáo Paris : Giáo hội Việt Nam được chính thức hình thành vào ngày 09/09/1659 với sự bổ nhiệm hai Giám mục đầu tiên François Pallu và Lambert de la Motte. Về phương diện thần học và Giáo luật, ngay khi hội đủ ba yếu tố : Tin Mừng, Thánh Thể và Giám mục, lúc đó một Giáo hội địa phương được thành hình (Lumen Gentium 26 ; Giáo luật, điều 368-369. 371, § 1), (Marie Fiat, Về với cội nguồn Giáo hội Việt Nam, 2009, tr. 9-18).

Mẹ ELISA MARTINEZ – Được công nhận là đấng Đánh Kính bởi Đức Thánh Cha Phanxico

THIEP

(CGOL) Ngày 13/10/2021, kỷ niệm lần hiện ra cuối cùng của Đức Mẹ Fatima, tại Tòa Thánh Vatican, Đức Hồng Y Marcello Seneraro – Bộ Trưởng Bộ Tuyên Thánh đã tiếp kiến Đức Thánh Cha trước giờ tiếp kiến ở Hội Trường Phao-lo VI, về phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Đức Cố Thánh Cha Gioan Phaolo I, được nâng lên Bậc Chân Phước (Beato), bên cạnh đó Đức Thánh Cha cũng chuẩn nhận và công bố Tôi Tớ Đức Chúa – Mẹ Elisa Martinez – Đấng Sáng Lập Dòng Nữ Tử Đức Mẹ Leuca, ( Daughters of St.Mary of Leuca trong Tiếng Anh), ( Figlie di Santa Maria di Leuca trong Tiếng Ý), lên Bậc Đáng Kính.

Vậy Bậc Đáng Kính có nghĩa là gì?

Nâng Tôi Tớ Đức Chúa lên Venerable, Bậc đáng kính.
Các hồng Y và Giám Mục trong và ngoài Rôma được triệu tập và được cáo thỉnh viên yêu cầu chấp nhận án tuyên thánh. Một Ponens, tứ báo cáo viên được chọn từ các Hồng Y hay Giám Mục, thành viên của Bộ Tuyên Thánh được bổ nhiệm để chấp nhận án tuyên thánh và báo cáo với Đức Giáo Hoàng. Một khi Đức Thánh Cha đã nhìn nhận những nhân đức siêu vượt hay cái chết anh hùng của Người Tôi Tớ Đức Chúa là xác thực, Ngài ra quyết định cho nâng lên Bậc Đáng Kính. Giờ đây, người ta được quyền làm Holy Card, tức thiệp thánh, có hình của Bậc Đáng Kính và kinh nguyện xin Chúa thực hiện dấu lạ qua sự chuyển cầu của Bậc đáng kính.

sssss
Mẹ ELISA MARTINEZ

Đây là một bước rất quan trọng để có thể tiếp tục án tuyên thánh. Sau, Bộ Tuyên Thánh sẽ nghiên cứu về phép lạ nhờ sự chuyển cầu của Đấng Đáng Kính. Thời gian nghiên cứu về phép lạ tùy thuộc vào các Bác Sĩ của Bộ Tuyên Thánh. Sau thời gian này, nếu phép lạ cuộc Bộ Tuyên Thánh xác nhận là phép lạ, thì sẽ được tuyên phong Chân Phước (Beata).

Mẹ Elisa Martinez là ai?

Mẹ Elisa Martinez, được sinh ra tại Galatina (LE) vào ngày 25 tháng 3 năm 1905, Ngay từ khi còn nhỏ, Mẹ đã có một tình yêu đặc biệt dành cho những người không có khả năng tự vệ và nhất là dành cho trẻ thơ, tình yêu đó sau này được bộc lộ khi theo học các trường học tôn giáo. Trên thực tế, Mẹ thường quây quần bên các trẻ em, giải trí với chúng bằng các trò chơi và dạy chúng những điều sơ khai đầu tiên về giáo lý và cầu nguyện.

Để trở thành một trong các Nữ tu Đức Mẹ Bác ái Mục tử Nhân Lành, Mẹ đã đến Pháp, và vào ngày 29 tháng 9 năm 1928, Mẹ đã  nhận tu phục áo dòng và vào ngày 29 tháng 9 năm sau, Mẹ Tuyên khấn với 3 Lời Khấn Phúc Âm, lấy tên là Nữ tu Maria Lucia. Sau đó, Mẹ được gửi đến Cộng Đoàn ở Chieti, nơi Mẹ sẽ cống hiến hết mình cho việc giáo dục phụ nữ trẻ.

Năm 1932 là thời gian đau khổ tột cùng, vì lý do sức khỏe, Mẹ buộc phải rời khỏi Hội Dòng nhưng không phải vì lý tưởng tiếp tục theo Chúa mà Mẹ đã có những kế hoạch khác cho chính mình. Quả thật, nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cảm động trước tấm gương của Chúa Giê-su Vị Mục Tử Nhân Lành và Đức Mẹ Maria trong việc giúp đỡ người chị họ là Elizabeth, Mẹ đã nghĩ đến việc thành lập một Tu Viện dành cho việc dạy giáo lý trong các giáo xứ, đào tạo thanh thiếu niên, giáo dục mầm non, hỗ trợ các bà mẹ đơn thân, tù nhân và anh em di cư trên khắp thế giới. Mẹ bắt đầu bước những bước đầu tiên cho dự định của mình vào năm 1934 và vào ngày 20 tháng 3 năm 1938 – ngày sau Lễ trọng thể kính Thánh Giuse, dưới sự bảo trợ của người mà Mẹ muốn đặt chính Mẹ và những người bạn đồng hành – với sự giúp đỡ của Linh Mục Chánh xứ của Giáo xứ Miggiano, Linh Mục Luigi Cosi và sự chấp thuận của Giám Mục Giáo Phận Ugento, Đức Cha Giuseppe Ruotolo, khởi đầu với tên Tu Hội các Nữ tu Vô nhiễm Nguyên Tội.

Ngay từ đầu, Đáng Sáng Lập Dòng dù còn trẻ nhưng đã thể hiện tinh thần mẫu tử cao cả đối với các chị em của mình, một khía cạnh khiến Mẹ nổi bật trong suốt quãng đời còn lại, phải đối mặt với những hy sinh lớn lao nhất để không khiến họ thiếu thốn bất cứ điều gì.

Vào ngày 15 tháng 8 năm 1941, Đức Cha  Ruotolo đã xây dựng Tu Hội như một Tu Viện theo Luật Giáo phận, đồng thời đề nghị đổi tên thành “Chị Em Nữ Tử Đức Mẹ Leuca”, để vinh danh đền thờ Đức Mẹ lớn nhất trong Giáo phận và ở Salento.

Vào giữa Chiến tranh Thế giới, Mẹ Elisa đã mạo hiểm đến miền Bắc nước Ý để mở rộng Hội Dòng non trẻ. Sau bao nhiêu thăng trầm do chiến tranh, thực tế đã chia đôi nước Ý,  khiến nước Ý không thể đi từ bên này sang bên kia, Mẹ đã quay trở lại Miggiano để ôm những đứa con gái còn lại của mình mà Mẹ đã buộc phải rời xa. Trước sự ngạc nhiên tột độ và niềm vui khôn tả, Mẹ nhận thấy số lượng họ tăng lên nhờ sự trung thành của người cộng tác đáng tin cậy của mình – Tôi tớ Đức Chúa, Mẹ Têrêsa Lanfranco. Năm 1946 trụ sở chính và Nhà tập của Tu hội được chuyển đến Rôma; vào năm 1958, họ tìm thấy nơi mà có thể đặt trụ sở của Tu Hội ở Prima Porta. Trong khi đó, vào năm 1943, Mẹ Elisa đã nhận được Sắc lệnh xây dựng Tu Viện theo Quyền Giáo Hoàng cho Hội Dòng của mình.

Trong  những  năm này, Tôi Tớ Đức Chúa, mặc dù sức khỏe rất yếu, vẫn không ngừng tiếp tục cuộc hành trình dài và mệt mỏi để mở rộng các chi nhánh của Hội Dòng ở những nơi khác nhau trên thế giới, bắt đầu từ phần còn lại của Châu Âu (Thụy Sĩ, Bỉ, Pháp), cho đến Châu Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) và Úc. Nhưng để đạt được tất cả những điều này, Mẹ đã phải trả giá đắt gấp bao lần.

Mẹ không làm gì mà không quy về sự truyền giáo cho Giáo hội Mẹ, đó là lý do tại sao ngay cả Đức Giáo Hoàng Piô XII cũng nhiều lần chào đón Mẹ với lòng tốt của người Cha Chung, khuyến khích và ban phúc cho Mẹ. Mẹ cũng được an ủi bởi những lời khuyên và sự chúc lành từ những người nam và người nữ sống thánh thiện, trong số đó có Cha Thánh Piô thành Pietrelcina và Chân Phước Mẹ Speranza Giê-su Collevalenza, và bởi sự hướng dẫn khai sáng của các vị linh hướng thông thái.

Năm 1965, một ˮtrận chiếnˮ khác đã nổ ra trong Tổng Tu nghị lần thứ hai của Hội Dòng, khi Mẹ Elisa không còn là Bề trên Tổng quyền nữa. Mẹ chấp nhận mọi thứ với sự khiêm tốn tuyệt vời, khiến hầu hết các thành viên thậm chí còn đánh giá cao hơn Đấng sáng lập của họ. Tuy nhiên, những năm đó không phải là vô trùng bởi vì Mẹ đã cống hiến hết mình cho việc xây dựng những ngôi nhà mới ở châu Âu (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) và ở châu Á (Ấn Độ và Philippines).

Sau nỗi khó khăn này, trong Tổng Tu Nghị năm 1970, nhất trí bầu tại Mẹ Elisa là Bề trên Tổng quyền, nhưng vào năm 1987, trong Tổng Tu Nghị thứ chín, Mẹ đã từ bỏ chức vụ này vì lý do sức khỏe và được phong là Mẹ Chung Danh dự. Mẹ đã trải qua những năm tháng cuối đời trong âm thầm và vui vẻ, dâng hiến những đau khổ thể xác, tăng cường lời cầu nguyện cho người chị em đồng hành của Mẹ.

Vào ngày 8 tháng 2 năm 1991, một ngày đầy ân sủng tại Trụ sở Chính ở Rôma, Mẹ đã gặp Đấng mà Mẹ chọn làm “tất cả”, để lại di sản vĩ đại 55 cộng đoàn được phân bổ ở tám quốc gia với 600 người con yêu quý của Mẹ, những người đã truyền bá đặc sủng của Mẹ với lòng trung thành không lay chuyển.

Vào ngày 12 tháng 11 năm 2017 tại Vương cung thánh đường Santa Maria di Leuca, cuộc Điều tra của Giáo phận về cuộc đời, nhân đức và danh tiếng thánh thiện của Mẹ Elisa đã kết thúc, được giới thiệu vào ngày 17 tháng 11 năm 2016.

    Danh tiếng về sự thánh thiện ngày càng tăng, ngôi mộ của Mẹ trong nhà nguyện của Hội Dòng là điểm đến hành hương của những người cầu xin nhờ sự chuyển cầu của Mẹ với Thiên Chúa.

Đến nay, Hội Dòng hiện diện trên 10 quốc gia trên thế giới, họ đang mang tinh thần và trái tim của một người mẹ trong lòng xã hội, họ là những cánh tay nối dài của Đấng Sáng Lập Dòng.

242496094 1017779068791595 1289421142488163259 n

1111

Sr.Giacinta FSML

Tâm Sự Của Người Thiện Nguyện Bị fo – Kết Thúc Nhật Ký Thiện Nguyện Đợt VI – 2021 GPXL

BANNER 1
(DMNC) KẾT THÚC NHẬT KÝ THIỆN NGUYỆN ĐỢT 4
Giuse Nguyễn Văn Thương ( GPXL )
CHÚT TÂM SỰ CỦA NGƯỜI BỊ FO
BANNER 1
Tạ ơn Chúa, Hôm nay con đã kết thúc đợt thiện nguyện đợt 4 theo tiếng gọi của Đức cha Gioan Giám Mục Giáo Phận Xuân Lộc, Hôm nay con lên xe trở về đền thánh Martino để cách ly 14 ngày theo đúng quy định của Bộ Y tế, Con xin Tạ ơn Chúa đã luôn đồng hành với con trong thời gian qua để con vượt qua được tất cả dù có những lúc khó khăn và thử thách, Đây cũng là một trải nghiệm tuyệt vời của đời con.
Vào ngày 11/09 /2021 con chuẩn bị tinh thần và hành trang lên đường tham gia vào công tác phòng chống đại dịch covid đang bùng phát tại khu vực Thị Trấn Hiệp Phước – Nhơn Trạch -Đồng Nai. Khu vực này là khu vực đỏ rất nguy hiểm vì nơi đây fo rất nhiều nhưng với tinh thần lên đường con không sợ đến điều gì và con cũng muốn biết con covid này nguy hiểm đến mức độ nào mà ai cũng lo lắng, hoan mang, và sợ hãi, Thế rồi con bắt đầu vào công việc với tư cách là nhân viên y tế của xã Hiệp Phước, để đi test nhanh và bắt fo ra khỏi cộng đồng, ngày đầu chúng con rất vui vẻ vì cả ngày đi làm mà không bắt được ca fo nào, Nhưng rồi chuyện gì đến cũng đến, đó là ngày thứ hai chúng con đã test nhanh và kết quả năm ca dương tính mới đầu con cũng lo sợ một tí, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua và tiếp tục với công việc hằng ngày, cứ thế công việc trôi qua từng ngày, rồi trong đoàn thiện nguyện của chúng con ai cũng tiếp xúc với fo rất nhiều chúng con về nhà xông rất kỹ để cho khỏi lây nhiễm, rồi cũng test nhanh cứ 3 ngày 1 lần để xem có bị sao không nhưng tất cả đều bình yên,
Rồi hai tuần lễ trôi qua thật nhanh chóng khi đoàn thiện nguyện kết thúc để về khu cách ly, chỉ còn lại hai người để phục vụ cho đến hết ngày 30, nhưng cũng trong tuần thứ ba này hai người chúng con bị dương tính covid theo kết quả test nhanh, Thế rồi họ đưa về bệnh viện dã chiến số 8 ở Long Thành để lấy mẫu pcr lại để kiểm tra có bị nhiễm không, khi lấy mẫu con thật sự bất ngờ là bị nhiễm chỉ số ct chỉ còn 17 bác sĩ nói rất nặng và dễ lây nhiễm cho người khác, Và bắt đầu con chống chọi với con covid trong cơ thể của con
Sáng con dậy sớm đọc kinh và lần hạt Mân Côi hết 50 kinh xong, Con bắt đầu tập thể dục, đi bộ, chạy và nhảy dây Và hít đất trong vòng 1 tiếng đồng hồ, Và xông hơi , Và quan trọng nhất là phải uống nước thật nhiều vào trung bình con uống một ngày 3lit, Cứ thế sáng rồi lại đến chiều mọi công việc tập luyện cứ đà tăng lên gấp đôi và gấp ba và như thế con bắt đầu cảm nhận được mùi vị của thức ăn và mùi vị của tất cả xung quanh con, Cho đến ngày thứ 7 con được lấy mẫu pcr lại, Một kết quả thật bắt ngờ là con âm tính, Lúc đó con vui lắm vì đã chiến thắng được con covid này vì nó đã cướp đi biết bao nhiêu là sinh mạng của nhiều người trên thế giới,
Và bắt đầu con tham gia vào công việc lấy cơm để chia cho các bệnh nhân fo, Nơi đây có khoảng hơn 1 ngàn bệnh nhân Fo, Công việc nhẹ nhàng nhưng cũng vui vì giúp đỡ được cho họ một phần nào đó, Nhưng không vì thế mà con lãng quên việc tập luyện của con, Cứ thế con càng tập hăng say hơn nữa không quản ngại giờ nào cứ rảnh là con tập luyện, Cho đến tuần thứ hai con được lấy mẫu pcr lại kết quả vẫn như cũ vậy là con âm tính lần thứ hai, Đây là một kết quả chữa trị covid thật tuyệt vời, Những gì con nói ra đây để ai bị nhiễm thì đừng hoan mang và lo sợ cứ theo con hướng dẫn sẽ hết trong 7 ngày và muộn nhất là 9 ngày thôi
Giờ đây con phải về đền thánh Martino để cách ly thêm 14 ngày nữa chước khi trở về nhà với người thân trong gia đình, Tạ ơn Chúa đã luôn đồng hành với con, Con cảm ơn đến Cha Tổng, Quý cha, Quý thầy, Quý sr và tất cả trong nhóm thiện nguyện đợt 4 đã luôn yêu thương con và cầu nguyện cho con và những lời động viên thăm hỏi hàng ngày, Một lời con không thể nào nói hết được bây giờ, Con chỉ cầu xin Chúa và Mẹ Maria luôn luôn phù hộ cho Quý cha, Quý thầy, Quý sr và tất cả mọi người mà con quen biết được mạnh khỏe và bình an trong đại dịch covid và tràn đầy hổng ân Thiên Chúa, AMEN
Nhật ký thiện nguyện đợt 4
Giuse Nguyễn Văn Thương ( GPXL )
Ngày 10/10/2021

Thiện Nguyện Viên: Cảm Nghiệm của một Nữ Tu Thiện Nguyện bị nhiễm COVID19

Thien Nguyen 1

(DMNC) NHƯ HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT

Thien Nguyen 1

     Hành trình phục vụ tại Khu cách ly và Bệnh viện dã chiến đã đong đầy trong tôi biết bao cung bậc cảm xúc. Hôm nay tôi đã trở về cộng đoàn sau những ngày tháng phục vụ bệnh nhân Covid. “Như hạt lúa mì gieo vào lòng đất” (Ga 12, 24), tôi đã ước ao như hạt lúa mì nhỏ, hy sinh bản thân để trao ban sự sống; tôi đã muốn mang trái tim yêu thương đến với các bệnh nhân đau khổ; tôi muốn góp thêm đôi bàn tay bé nhỏ để cùng với mọi người đẩy lui dịch bệnh. Tôi hạnh phúc vì ước nguyện đó đã được thực hiện  dẫu vẫn còn dang dở.

Nhớ ngày đầu tiên lên đường tâm hồn tôi thật háo hức phấn khởi, nhớ ánh mắt lo lắng của Dì Phụ trách dõi theo tôi, cùng với lời mắng yêu “con bé này đoảng lắm”. Tôi muốn cám ơn Dì thật nhiều vì đã tin rằng Chúa sẽ luôn đồng hành với tôi nên Dì đã sẵn lòng trao gửi tôi đến môi trường phục vụ mới, nơi sẽ có thể gặp điều bất trắc nguy hiểm, với một niềm phó thác tin tưởng vào Chúa.

Niềm vui phục vụ càng nhân lên khi tôi cảm nhận được tình thân thương của mọi người trong nhóm thiện nguyện; sự nhiệt tình quảng đại của Cha phụ trách nhóm, tinh thần xả thân hy sinh trong vui tươi của quý thầy, các bạn trẻ và các chị cùng dòng như tiếp thêm sức mạnh cho tôi trong những ngày phục vụ tại khu cách ly. Thế nhưng, trong thánh ý nhiệm mầu, Chúa lại mời gọi tôi tiếp tục bước vào một hành trình mới dấn thân cách can đảm hơn. “Cha gợi ý với sơ Hương đến bệnh viện dã chiến…sơ thấy thế nào nhưng chắc ý Chúa là không muốn sơ ở đây nữa”. Cuộc trao đổi diễn ra thật ngắn gọn nhưng chất chứa nhiều tâm tình thương mến của một người Cha. Vâng lời trong sự bình an và tín thác bởi nếu điều đó là đẹp lòng Chúa thì việc nhiễm bệnh Covid lại là cơ hội để Chúa dẫn tôi đi trên nẻo đường mới của Người theo cách thức mà Chúa muốn.

Tôi luôn phải tạ ơn Chúa thật nhiều vì cho tôi cảm nghiệm được tình thương Chúa trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những thời khắc khó khăn nhất. Trải nghiệm lần đầu tiên ngồi một mình trên xe cứu thương với tư cách là một bệnh nhân Covid quả thật đặc biệt. Tiếng còi xe cứu thương luôn là một nỗi ám ảnh, đáng sợ nhất trong thời điểm hiện tại; với cảm nhận bấp bênh mong manh của phận người, tôi đã nghĩ đến và thương cho những phận người bé nhỏ, đau khổ nhất, không niềm tin, không còn hy vọng. Riêng tôi, dù đi đâu về đâu, dù có như thế nào và ngay cả cái chết cũng không đáng sợ vì tôi luôn có Chúa ngay bên từng giây từng phút. Tôi nghĩ rằng mình thật liều lĩnh, nhưng tôi vẫn vui vì đã liều lĩnh tin tưởng vào Giêsu. Điều đó làm cho tôi luôn bình an, không cần phải lo lắng và sợ hãi.

Tôi đã khám phá ra ý nghĩa mới khi là thành viên của gia đình FO, tôi được chung chia nỗi đau với bệnh nhân, cảm nhận được tâm trạng lo lắng, sợ hãi và nhìn thấy được sự khó khăn thiếu thốn của họ ở ngay bên. Trong hoàn cảnh xem ra thật ngặt nghèo, nhưng Chúa vẫn tiếp tục mời gọi tôi ra khỏi chính mình để nâng đỡ, an ủi, sẻ chia.

 Được mời gọi trở nên Tông đồ thừa sai, được trở nên mọi sự với mọi người, sẻ chia vui buồn “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15) trong mọi hoàn cảnh dù là một  tình nguyện viên hay là một bệnh nhân covid vẫn là một ân huệ đối với tôi. Khi tôi biết chọn Chúa và tha nhân, thì chính Chúa cho cơ hội để làm cho ánh sáng tình yêu của Người lan tỏa trong lòng mọi người.

 Dù không muốn khóc nhưng những giọt nước mắt của tôi đã rơi, những giọt nước mắt của niềm vui và cả những giọt nước  mắt của đau buồn. Vui khi nghe thấy những tiếng cười, những tiếng vỗ tay của các bệnh nhân khi họ nhận được kết quả âm tính hay nghe thấy tên mình có trong danh sách được xuất viện trở về nhà; khóc khi chứng kiến những giọt nước mắt đau buồn của bệnh nhân vì mất đi người thân trong gia đình ở một nơi nào đó trong khu cách ly hay bệnh viện.

          Sau những ngày nghỉ ngơi điều trị covid, trở về lại với vai trò là tình nguyện viên phục vụ tại bệnh viện dã chiến, tiếp tục khoác trên mình bộ quần áo bảo hộ, tâm hồn tôi tràn ngập niềm vui. Công việc phục vụ hằng ngày của tôi là giúp đỡ các bệnh nhân đau bệnh không có khả năng tự phục vụ như cho ăn, thay tã, đổ bô, giặt quần áo; lau dọn khu nhà vệ sinh, hành lang phòng theo dõi và phòng cấp cứu. Công việc của tôi tuy bé nhỏ, bình thường nhưng tôi thấy vui, ý nghĩa vì đã giúp ích và xoa dịu một phần nào đó nỗi đau tinh thần, thể xác của các bệnh nhân. Nhìn thấy bệnh nhân mệt mỏi, đau đớn khiến tôi không khỏi nhói lòng. Tôi cảm thấy bệnh viện giống như gia đình và người bệnh giống như là người thân của tôi vậy nên dù hy sinh hơn cũng không hề gì. Niềm vui lớn của tôi là khi thấy bệnh nhân khỏe lại và được xuất viện trở về nhà. Một chị sau khi xuất viện đã nói với tôi rằng: chị bị covid và thêm một bệnh nền khác làm chị đau đớn, cơn đau hành hạ khiến chị muốn tự tử nhưng mỗi lần nhớ đến tôi, nhớ những lời động viên, an ủi, dù không có đạo nhưng qua tôi chị tin rằng có Chúa, Chúa sẽ chữa lành cho chị. Tôi không nghĩ mình đã làm được gì lớn lao bởi tôi biết mình bé nhỏ không dám dựa vào sức riêng chỉ biết bám vào Chúa để cùng với Người trở thành chỗ dựa tinh thần cho người khác. Mỗi việc tôi làm, mỗi lời tôi nói khi được đặt vào đó tình yêu đã trở nên sức mạnh giúp tôi vượt qua mọi trở ngại và mệt nhọc, tôi tìm thấy niềm vui trong chính công việc phục vụ của mình.

Chuyến hành trình thật thấm thía, sâu sắc tình Chúa và tình người. Những gì tôi nhận được dường như còn lớn hơn cả những gì cho đi. Thật ấm áp khi tôi nhận được sự yêu thương, quan tâm và động viên của nhiều người; thật vui khi tôi biết rằng mình nhận được rất nhiều lời cầu nguyện. Sự sẻ chia gắn kết những trái tim lại với nhau, năng lực yêu thương được lan tỏa nhờ sự liên đới, trao ban.

Tạ ơn Chúa về tất cả những gì xảy đến cho tôi, về nẻo đường mà Chúa đã dẫn tôi đi theo cách Chúa muốn. Giờ đây, tôi sẽ là “hậu phương” vững chắc với lời cầu nguyện tha thiết đan dệt với những hy sinh bé nhỏ âm thầm dâng lên Chúa cầu mong đại dịch sớm chấm dứt.

Nt. Têrêsa Cao Trang Hoài Hương

MENU

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI CÚI MẸ NÚI CÚI HÀNH HƯƠNG TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN GIÁO PHẬN TƯ LIỆU NÚI CÚI CẦU NGUYỆN LIÊN HỆ
Hành hương
Hiệp ý
Menu
Thông báo
Đăng ký
Facebook Zalo TikTok YouTube
ĐĂNG KÝ