Đỉnh Cao Cầu Nguyện – Tuần XXIX Thường Niên, Năm C

Kn

CN

Ngày xưa định nghĩa: cầu nguyện là nâng tâm hồn lên tới Chúa. Thời nay thời xa lộ thông tin, người ta định nghĩa: cầu nguyện là nối mạng với Chúa. Nâng tâm hồn lên hay kết nối với Chúa, cầu nguyện luôn là một cuộc đối thoại là quan hệ trực tiếp mỗi người với Chúa. Trong cuộc đối thoại ấy, con người lắng nghe Chúa nói và nói với Chúa.

Cầu nguyện giúp người tín hữu tin, cử hành đức tin và sống mầu nhiệm đức tin trong tương quan sống động và thân tình với Thiên Chúa hằng sống và chân thật. (GLCG 2558). Mọi thời gian đều thuận tiện để cầu nguyện. Dù vậy, Hội Thánh đề nghị các tín hữu nên dành thời gian cho việc cầu nguyện liên tục: Kinh sáng và kinh tối; kinh nguyện trước và sau khi dùng cơm, Phụng vụ các giờ kinh, cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhật, chuỗi Mân côi, các lễ trong năm Phụng vụ.

Cầu nguyện giúp con người ý thức về chiều kích thiêng liêng. Cầu nguyện cần có hai yếu tố: thực tâm và bền bỉ. Lời Chúa hôm nay cho thấy hiệu năng của cầu nguyện, lòng kiên trì và sự khiêm tốn trong lời cầu nguyện.

 Chúa Giêsu dạy cầu nguyện

Sách Tin Mừng Luca chứa nhiều giáo huấn về cầu nguyện hơn các sách Tin Mừng khác.Toàn thể thời thơ ấu của Chúa Giêsu trải ra trong cầu nguyện như tuổi thơ bồng bềnh trong tiếng mẹ ru: truyền tin, thăm viếng, giáng sinh, dâng trong Đền thờ, ở lại trong Đền thờ…Sau khi chịu phép Rửa, Chúa cầu nguyện, khi đi rao giảng thì sáng sớm Chúa ra nơi thanh vắng cầu nguyện; người ta tuôn đến để nghe giảng và xin chữa bệnh, Chúa cũng bắt chờ Chúa đi cầu nguyện (Lc 5,16); trước khi chọn nhóm Mười Hai, Chúa cầu nguyện thâu đêm; trước khi cho nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin, Chúa  cũng cầu nguyện; vinh quang của Chúa toả ra đang khi Chúa cầu nguyện; khi nhóm Bảy Mươi Hai đi rao giảng trở về hớn hở vui mừng, Chúa cũng lên tiếng chúc tụng Cha. Chúa luôn cầu nguyện một mình, dù các môn đệ vẫn ở bên cạnh.

Chúa Giêsu dạy phải cầu nguyện như Người hằng cầu nguyện (Lc 6,12); cầu nguyện cho các địch thù (Lc 6,28); vững tâm cầu nguyện đón chờ ngày Chúa đến (Lc 21,36); cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22,40.46)… Khi các môn đệ xin Chúa dạy cách cầu nguyện, Người dạy họ cầu nguyện với kinh Lạy Cha (Lc 11,2-4). Chúa Giêsu mang theo cả nhân loại trong lời cầu nguyện của mình. Người nói chuyện với Chúa Cha, bàn bạc với Chúa Cha về những việc Người làm cho công cuộc cứu độ nhân loại.

Ba dụ ngôn chính về việc cầu nguyện đã được thánh Luca ghi lại:

– Người bạn quấy rầy (Lc 11,5-13). Ý nghĩa dụ ngôn cho thấy Thiên Chúa không thể không ban ơn cho những ai thành tâm và tha thiết kêu cầu Ngài. “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao ?”

– Bà góa phụ quấy rầy (Lc 18, 1-8). Dụ ngôn này dạy ta phải biết cầu nguyện luôn, kiên trì trong đức tin không mệt mỏi, và đừng bao giờ nản chí trước mọi tình thế.

– Người biệt phái và người thu thuế  (Lc, 18, 9-14). Dụ ngôn này dạy ta phải khiêm nhường thật lòng khi cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

 Cầu nguyện kiên trì

Chúa Giêsu dạy về sự cần thiết và hiệu năng của lời cầu xin. Phải cầu nguyện kiên trì, đừng bao giờ nhàm chán, đừng ngã lòng. Chúa dùng Dụ ngôn minh hoạ, ông quan toà bất lương gặp bà goá kêu nài.

Bà góa cô thân cô thế nhưng lại kiên trì cương quyết, bà tin chắc cứ kêu nài, cứ van xin, thế nào quan tòa cũng chịu xét xử. Quan tòa là người chẳng sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng cũng chịu thua bà góa. Ông minh xử cho bà goá không phải vì yêu thương, chẳng phải vì trách nhiệm mà là vì sợ bị quấy rầy. Một quan tòa vô đạo, bất công mà còn xét xử cho người van xin thì huống là Thiên Chúa, Đấng công minh chính trực, thưởng phạt công bằng, Đấng giàu lòng xót thương, luôn bênh đỡ những kẻ bé mọn kêu cầu Ngài!

Khi nói dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý nói phải cầu xin thật dai dẳng thì mới được Thiên Chúa nhậm lời, nhưng Người muốn chúng ta tin tưởng vào hiệu lực của lời cầu xin, bởi vì “Có người cha nào, khi con mình xin cái bánh mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn? Nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người” (Mt 7,9-11).

Cầu nguyện hơi thở của linh hồn

 Sống lời Chúa Giêsu dạy, Thánh Phaolô khuyên các tín hữu cầu nguyện liên tục, không ngừng ngày đêm. Ngài nói lên sự cần thiết của cầu nguyện bằng những lời tâm tình mời gọi: “Hãy chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12,12); “Anh em hãy bền đỗ cầu nguyện, tỉnh thức cầu nguyện và tạ ơn” (Col 14,2), “Đừng ngớt cầu nguyện” (1Thes 5,7; Rm 8,26-27); “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4, 6). Như một người bạn thân tình, cầu nguyện là nói với Chúa bằng tâm nguyện, không cầu kỳ, không hoa mỹ. Lòng chân thành là cách tỏ bày tốt nhất có thể dâng lên Chúa.

Cầu nguyện thật cần thiết cho đời sống tâm linh. Thánh Gioan Kim Khẩu so sánh sự cần thiết của lời cầu nguyện với chuyện cá trong nước. Bao lâu cá ở trong nước, nó vẫn sống, hoạt động và tăng trưởng, nhưng nếu cá bị bắt ra ngoài, chắc chắn nó sẽ chết. Cũng vậy, con người muốn sống siêu nhiên cần phải cầu nguyện, nếu không cầu nguyện họ sẽ mất ơn Chúa giúp, rồi dần dà họ sẽ mất sự sống siêu việt không khác nào cá phải chết vì không có nước.

Thánh Bênađô cũng đã so sánh sự hô hấp cần thiết cho con người như thế nào, thì lời cầu nguyện cũng cần thiết cho con người như vậy. Đối với linh hồn, cầu nguyện cần thiết cũng như hô hấp cần cho cơ thể con người. Nếu con người hô hấp khó khăn thì thân xác sẽ thành tiều tuỵ, và nếu hô hấp đình chỉ thì con người sẽ chết. Cũng thế, khi ta ít cầu nguyện, linh hồn biến thành bạc nhược, và khi ta không cầu nguyện tí nào, linh hồn ta sẽ chết đi trước mặt Chúa. Cầu nguyện cốt yếu ở việc thường xuyên.

Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, là sự sống, là sức mạnh của người Kitô hữu. Một đức tin không có cầu nguyện thì chỉ là một niềm tin vô ngã, vật chất.

Cầu nguyện là lẽ sống. Lời cầu nguyện có một tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống. Lời cầu nguyện chỉ thực sự có giá trị và sức mạnh khi phát xuất từ một đức tin có chất lượng và sống động.

 Cầu nguyện đỉnh cao

Phần đông người tín hữu chúng ta ít khi biết cầu nguyện trong thinh lặng. Hễ cầu nguyện là chỉ biết đọc kinh. Đọc kinh ở nhà thờ, đọc kinh ở nhà. Có khi đọc kinh nhiều mà cầu nguyện chẳng bao nhiêu. Nhưng phút giây thinh lặng là những phút giây quan trọng để lắng nghe Chúa nói. Đỉnh cao của cầu nguyện là thinh lặng kính thờ Chúa.

Cầu nguyện không phải là vấn đề của kiến thức hay kỹ thuật. Cầu nguyện luôn đi đôi với đức tin và lòng mến.Vì thế phải cầu nguyện trong Thánh Thần (Rm 8,1), đơn sơ (Lc 18,15-17), khiếm tốn (Lc 18,14), trong thầm kín (Mt 6,6).

Khi cầu nguyện tâm trí được nâng lên cùng Thiên Chúa hầu suy tôn, tán tụng, cảm mến, tạ tội, xin ơn. Trình độ cầu nguyện cao nhất là : xin đừng theo ý con mà theo ý Cha.

 Trong một thế giới ồn ào náo động như hiện nay, một thế giới bị ô nhiễm về môi sinh và bị ô nhiễm về tinh thần, người Kitô hữu phải là chứng nhân cầu nguyện. Với nền công nghệ tiên tiến hiện đại, người ta “muốn là được”, chỉ cần một cái nhấp chuột là biết vô vàn thông tin cho nên con người ít kiên nhẫn và rất lười cầu nguyện, người Kitô phải nêu gương sáng trong đời sống cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện vì muốn nên giống Chúa Giêsu, Đấng hằng cầu nguyện liên lỉ với Cha và dạy chúng ta cách thức cầu nguyện.

Lạy Chúa Giêsu, chiêm ngắm Chúa cầu nguyện, lắng nghe Chúa dạy cầu nguyện, chúng con nhận thấy đời sống cầu nguyện thật cần thiết cho đời tâm linh. Xin cho chúng con luôn yêu mến đời sống cầu nguyện; xin cho chúng con xác tín rằng, tự sức riêng, chúng con không làm được gì cả, nhưng với ơn Chúa, chúng con làm được nhiều điều tốt lành trong cuộc sống hàng ngày. Amen.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

Nghìn Trùng Xa Cách – Tuần XXVI Thường Niên, Năm C

CNe 1

CNe 1

Dụ ngôn phú hộ và Ladarô cho thấy có một nghìn trùng xa cách giữa thiên đàng và hoả ngục “giữa chúng ta đây và các con có một vực thẳm lớn…”, mối tương quan giữa cuộc sống đời này và đời sau.

  1. Khoảng cách nghìn trùng

Sống ở đời này, phú hộ dư ăn dư mặc, Ladarô nghèo nàn đói lả. Người phú hộ mặc toàn lụa là gấm vóc, Ladarô rách nát tả tơi. Phú hộ nhà cao cửa rộng, Ladarô lê lết bên cổng ăn xin. Phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, Ladarô không có một chút bánh để ăn. Người sống chốn thiên đàng dương thế, kẻ chịu cảnh hoả ngục trần gian.

Cái chết đến và tất cả đều đảo ngược. Đời sau, Ladarô được đưa lên mây trời, phú hộ bị đày xuống vực thẳm. Ladarô được hưởng phúc thiên đàng, phú hộ phải trầm luân hoả ngục. Có một khoảng cách nghìn trùng giữa hai người mà bên này muốn qua bên kia không được và bên kia muốn qua bên này cũng không thể. Ladarô hạnh phúc trong cung lòng tổ phụ Ápraham. Phú hộ chịu cực hình, nài xin với Ápraham “sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước nhỏ trên lưỡi con cho mát vì ở đây bị lửa thiêu đốt”. Khi chết, Ladarô đã tìm được những người bạn hữu : các thiên thần, Ápraham tổ phụ, những người có đức tin. Ngược lại, phú hộ chẳng có bạn bè, chẳng có trạng sư biện hộ cho hoàn cảnh của ông ta : hỏa ngục, chính là nỗi cô đơn. Nhất là ông vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa, vì đã sống xa cách anh em. Ðây là một cực hình khủng khiếp nhất.

Theo cha Nguyễn Tầm Thường: “Dụ ngôn không phải là bài giảng riêng của Chúa về đời sống sau cái chết. Không thể căn cứ vào một “dụ ngôn” để cắt nghĩa thần học về đời sau. Phải đặt dụ ngôn này trong hoàn cảnh trả lời các Pharisiêu về thái độ đối với tiền bạc và quyền lực vô cảm. Giàu có của cuộc sống hôm nay sẽ chấm dứt với mộ chôn. Nhưng cách sử dụng sự giàu có sẽ liên hệ tới họ trong cuộc sống đời sau. Hình ảnh người giàu nhìn thấy Ladarô và xin Ladarô nhỏ nước cho ta thấy liên hệ này rất ý nghĩa. Tại sao dưới âm phủ, người giàu trong dụ ngôn không nhìn thấy người khác, mà là thấy Ladarô? Tại sao không xin chính Ápraham nhỏ nước mà xin Ladarô? Vì nhà giàu có liên hệ với Ladarô lúc còn sống. Ông nhìn thấy Ladarô hàng ngày, sáng, trưa, chiều, tối trước nhà ông. Đó là những liên hệ trực tiếp giữa con người lúc còn sống. Những liên hệ này sẽ kéo tôi mặt giáp mặt trong cuộc sống ngày phán xét. (x.Phúc âm trong dụ ngôn, tập 3, trang 71).

Khoảng cách nơi cuộc sống trần gian sẽ được hoán đổi vị trí sau cái chết. Vậy phải chăng dụ ngôn muốn trình bày vấn nạn : hễ sung túc giàu có ở đời này thì bất hạnh cực hình ở đời sau ? Hôm nay khốn khổ đói nghèo thì mai sau được hạnh phúc sung sướng? Có phải đó là lối an ủi ru ngũ, là thuốc phiện xoa dịu những người nghèo hãy chấp nhận, hãy an phận ? Đời này cùng khốn, rách rưới thì đời sau sẽ hưởng phúc thiên đàng?. Dụ ngôn không nói rõ lý do nào ông nhà giàu phải xuống âm phủ. Phúc Âm không nói lý do nào Ladarô được ở trong lòng tổ phụ Ápraham. Chắc chắn không phải vì giàu mà phải xuống âm phủ. Không phải vì nghèo mà Ladarô được thưởng. Không thể dùng dụ ngôn này để kết án sự giàu có và ca ngợi sự nghèo khó. Phúc Âm đã chẳng nói ai có thì con được cho thêm nữa đó sao (Mt 25,29). Giàu có không phải là tội lỗi và nghèo khổ không là giấy thông hành vào Nước Trời. Trình thuật dụ ngôn rất ăn khớp với toàn bộ tác phẩm, trong đó Luca thường đề cập đến người giàu kẻ nghèo để khuyến cáo hay khích lệ tuỳ trường hợp. Dụ ngôn nằm trong chủ đề của chương 16, giáo huấn về việc sử dụng tiền bạc của cải làm sao để đạt tới ơn cứu độ. Người phú hộ bị luận phạt hoả ngục không phải vì ông ta giàu có mà vì ông đã khép cửa khép lòng, sống dửng dưng, làm ngơ trước nỗi khổ đau của người khác. Cái tội phú hộ mắc phạm là phớt lờ người nghèo, là “mackeno” (mặc kệ nó) trước sự cùng khốn của tha nhân. Phú hộ không la mắng chửi bới, không xua đuổi Ladarô ra khỏi nhà, nhưng điều đáng trách là ông ta không thèm ngó nhìn người ăn xin van lơn. Tội của người phú hộ chính là tội hững hờ. Ở cạnh bên nhau mà không thấy nhau, không biết nhau, không giúp đỡ nhau thì thật là quá vô tình, quá hờ hững. Hoàn cảnh của Ladarô quá khốn khổ, thế mà người phú hộ vẫn hững hờ đến nỗi Ladarô phải chết vì đói đang khi ông ta lại quá dư thừa, thành ra tội hững hờ của người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng phạt trong hỏa ngục.

Trong bài đọc 1, Tiên tri Amos với lối nói cay độc chua chát đã tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những kẻ giàu có đang hưởng thụ xa hoa mà không biết xót thương người khốn khổ. Của cải vật chất đã trở thành bức tường khép kín, người giàu có sống an toàn mãn nguyện trong không gian riêng mình. Chính họ đã tạo ra khoảng cách vực thẳm xa cách nghìn trùng. Họ không cần Thiên Chúa cũng chẳng cần biết đến tha nhân, khoảng cách đó lớn dần và kéo dài đến đời sau. Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau là do con người đã tạo ra ở đời này. Sau khi chết, không còn có thể thay đổi được số phận nữa. Điều quan trọng là phải thay đổi ngay từ cuộc sống tại thế.

  1. Người chết trở về là điều không cần thiết

Trong các dụ ngôn, đây là dụ ngôn rất khác lạ trong lối dùng ngôn ngữ. Đem một nhân vật quan trọng bậc nhất, một tổ phụ vào một dụ ngôn giả tưởng là điều chưa thấy trong các dụ ngôn. Dụ ngôn là dùng hình ảnh biểu tượng, qua đó nhắn gửi một chân lý ở đàng sau. Nhưng ở đây, nhân vật được nói đến là người có thật trong lịch sử, có thật trong tôn giáo Do thái, đó là tổ phụ Ápraham (St 17,4). Nhân vật thứ hai được nói đến là Ladarô. Ladarô cũng là nhân vật lịch sử có thật. Đặc biệt nhân vật này sống cùng thời với Chúa Giêsu. Sự kiện đặc biệt nhất là Ladarô đã chết và Chúa cho sống lại. Chỉ có Phúc Âm Gioan nói đến nhân vật lịch sử này. Luca thì đưa tên gọi Ladarô thành chuyện dụ ngôn.

Ông nhà giàu nói : ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!’. Caipha có năm anh em mà bố vợ Caipha là thầy cả Thượng phẩm Annas. Ông nhà giàu trong dụ ngôn có năm anh em. Con số trùng hợp năm người anh em Thượng tế con ông Khanan giàu có ngoài đời. Bóng hình ông nhà giàu trong dụ ngôn ẩn hiện với bóng hình Caipha, là nhân vật có thật ngoài đời: “Caipha là Thượng tế năm ấy nói rằng: thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,50). Từ ngày đó họ tìm cách giết Đức Giêsu (Ga 11,53). Các Thượng tế quyết định giết cả Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do thái bỏ họ và tin vào Đức Giêsu (Ga 12,10-11). Sự cứng lòng của Thượng tế, thấy Đức Kitô cho Ladarô sống lại mà không tin. Số phận của họ được loan báo bằng số phận của ông nhà giàu trong dụ ngôn sau khi chết.

“Ông Ápraham đáp: ‘Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó’. Ông nhà giàu nói : ‘Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối’.  Ông Ápraham đáp : ‘Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin’”.

Câu trả lời của Ápraham là người chết có về họ cũng chẳng tin nằm trong ý nghĩa của sự kiện lịch sử có thật là chính họ thấy Ladarô sống lại. Ladarô là nhân vật có thật ngoài đời. Sự kiện Ladarô sống lại mà Pharisiêu và các tư tế không chấp nhận là lời cắt nghĩa tại sao người chết về họ cũng không nghe. Ápraham cho việc người chết về là không cần thiết. Vì trong thực tế họ đã thấy Ladarô về từ cõi chết rồi. Họ đã không tin. Tên người nghèo trong dụ ngôn là Ladarô. Trong thực tế có một Ladarô bằng xương bằng thịt đang sống, mọi người chứng kiến phép lạ Chúa cho Ladarô từ cõi chết trở về. Sự kiện này không làm cho Pharisiêu tin Đức Kitô. Trái lại, họ muốn giết Ladarô vì sợ là chứng nhân trở về từ cõi chết. Trong chủ trương giết Ladarô của Thượng tế Khanan và Caipha đưa ta vào câu trả lời của Ápraham: “Người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”; “giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó qua bên chúng ta đây cũng không được”. Trong Phúc Âm chỉ nói đến một Ladarô. Người Chúa cho sống lại từ cõi chết. Dụ ngôn này nói rõ tên nhân vật có thật là Ladarô, để khẳng định lời từ chối của Ápraham, người chết trở về là điều không cần thiết. (sđd trang 76 -77).

  1. Hãy sống tình liên đới với tha nhân

Dụ ngôn người nhà giàu và Ladarô mô tả một bức tranh tương phản, một khoảng cách rất gần mà lại rất xa, hai con người với hai cuộc đời, hai hoàn cảnh trái ngược nhau. Từ nhà ông nhà giàu đến chỗ người ăn mày Ladarô chỉ khoảng vài bước, cách nhau chỉ có cái cổng thôi. Khi sống, ông nhà giàu đã không chịu bước vài bước đó, để cảm thương và giúp đỡ cho người hành khất Ladarô luôn nằm chờ đợi. Hậu quả là khi chết rồi, người nhà giàu đó bị ném vào vực sâu hoả ngục, xa cách thiên đàng.Vài bước vô tâm đã đưa tới cực hình vô tận. Đời này và đời sau làm nên hai thứ khoảng cách. Khi còn sống ở trần thế, giữa hai người có một khoảng cách rất gần.Trong thế giới mai sau, khoảng cách giữa hai bên cách xa vời vợi. Hai thứ khoảng cách đó liên hệ mật thiết với nhau. Khoảng cách gần nơi trần thế làm nên nghìn trùng cách xa trong thế giới tương lai.

Ladarô không phải vì nghèo khổ mà được trọng thưởng, được hạnh phúc ngồi trong lòng tổ phụ Ápraham, nhưng vì biết chấp nhận số phận hẩm hiu và đặt niềm cậy trông phó thác nơi Thiên Chúa. Danh xưng Ladarô theo Luca có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi”. Người nghèo biết tin tưởng và phó thác, điều đó mới mang lại cho họ ơn phúc làm con tổ phụ Ápraham, cha những kẻ tin.

Dụ ngôn là lời cảnh báo những kẻ chỉ biết tôn thờ vật chất, hưởng thụ trần gian mà quên đi tình Chúa tình người. Dụ ngôn còn là lời kêu gọi ý thức trách nhiệm xây dựng tình liên đới với tha nhân, nhất là người nghèo.

Chúa Giêsu đã dùng tình thương để kết nối khoảng cách giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người khi Ngài làm người, một người nghèo giữa những người nghèo. Chúa Giêsu yêu thương người nghèo. Bằng thái độ và lời nói, Chúa đã nâng người cùng khổ và đem lại cho họ niềm hy vọng. Chúa ban cho họ tình yêu. Đỉnh cao nhất là Ngài cho họ chính mạng sống của mình.Ngăn cách giữa người giàu kẻ nghèo, giữa nô lệ và tự do giờ đây không còn nữa, tất cả là anh em của nhau, là con cùng một Cha trên trời. Mọi người được mời gọi sống Tin Mừng, sống liên đới với nhau và với người nghèo.

Lý tưởng Kitô giáo không phải là yêu mến sự khó nghèo mà là yêu thương người nghèo khó. Chúa Giêsu là Đấng giàu có đã trở nên nghèo khó, Ngài luôn yêu thương và sống liên đới với người nghèo. Vì vậy, người môn đi theo Chúa Giêsu chính là để trở nên giống Ngài. Tông huấn Giáo Hội Á Châu dạy rằng : Người đời dễ tin hơn tình liên đới với kẻ nghèo, nếu chính Kitô hữu biết sống giản dị theo gương Chúa Giêsu. Sự đơn sơ trong cách sống đức tin sâu xa và tình yêu không giả vờ đối với mọi người, nhất là người nghèo và bị bỏ rơi, đó là những dấu chỉ Tin mừng trong hành động (số 34). Vẫn còn quá nhiều người nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo văn hoá. Người Kitô hữu được mời gọi sống quảng đại, liên đới giúp nhau thăng tiến. Hãy mở rộng lòng cho yêu thương trong cuộc sống hàng ngày.Đừng sống hững hờ, cần rèn luyện một trái tim nhạy bén biết cảm thương những cảnh đời bất hạnh, biết quảng đại chia sẻ với những người thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin mở mắt mở, mở tai vả mở trái tim con để con thấy, con nghe, con biết sẻ chia niềm vui nỗi buồn, hạnh phúc đau khổ với hết mọi người. Amen.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CNv 1

CÙNG MẸ THƯA XIN VÂNG

CUNG ME THUA TIENG XIN VANG

CUNG ME THUA TIENG XIN VANG

-Cùng Mẹ Thưa Tiếng Xin Vâng-

Trang Tin Mừng có câu chuyện kể thật hay về một cô thôn nữ mười tám đôi mươi… Một ngày kia sứ thần của Chúa hiện đến truyền cho cô một tin hết sức bất ngờ và hết sức lạ lùng, rằng: cô sẽ mang thai do quyền năng Chúa. Cô thôn nữ ấy, không ngần ngại trả lời “xin vâng”…

Cảm nghiệm về câu chuyện này, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với các bạn trẻ như sau: Chúng ta ngỡ ngàng trước sức mạnh nơi tiếng “xin vâng” của cô gái trẻ Maria. Cô không thụ động chấp nhận, cũng không đáp lại lời sứ thần một cách yếu ớt. Cô đã quyết tâm. Cô biết lời thưa này có nghĩa gì. Cô không chần chừ hay ngần ngại để phải suy nghĩ hai lần… Có thể nói chắc rằng, tiếng “xin vâng” của Mẹ Maria là tiếng “xin vâng” của một người sẵn sàng dấn thân, một người sẵn lòng “mạo hiểm” mà không cần “bảo hiểm,” sẵn sàng đánh cuộc mọi thứ ngài có. Ngài biết rằng ngài là người mang một lời hứa. Mỗi người trong chúng ta đều mang một lời hứa theo một cách nào đó. Bạn có coi mình là người mang một lời hứa hay không? Lời hứa nào hiện diện trong trái tim bạn mà bạn có thể đảm nhận?[2]

Sứ mệnh và cuộc đời của Mẹ Maria chắc chắn sẽ khó khăn khi thưa tiếng “xin vâng” để thực hiện lời hứa. Tuy nhiên, các thách thức không phải là lý do để Mẹ trả lời “không.” Hẳn rằng, mọi việc sẽ trở nên phức tạp, nhưng không vì sự phức tạp mà không đủ can đảm để thưa “xin vâng.” [3]

Bước đi với Mẹ trên con đường đức tin, noi gương Mẹ sống tín thác vào tình yêu thương cùng sự quan phòng của Thiên Chúa, “cùng Mẹ thưa tiếng xin vâng,” chúng ta sẽ có những kinh nghiệm rất riêng về việc ở bên Chúa để cũng biết cộng tác vào công trình cứu chuộc như Mẹ. Nếu chúng ta sẵn sàng thưa tiếng “xin vâng” trước mọi biến cố vui, thương, mừng, sáng của cuộc đời; thì “Thiên Chúa có thể sống đời sống của Người trong đời sống của chúng ta.”[4] Chính lúc đó ta được canh tân do nguồn mạch sự sống và sự công chính của Chúa tràn lấp tâm hồn chúng ta. Hãy mở lòng ra để tiếp nhận Lời Hằng Sống qua những dấu chỉ trung gian Chúa gửi đến, nhờ đó Ơn Cứu Độ sẽ tuôn đổ trào tràn ngay trong những phút giây hiện tại, và như thế, chúng ta sẽ dạt dào nguồn sống, nguồn an vui, nguồn hy vọng để sẻ chia cho người khác.

Tưởng cũng nên ghi nhớ lời thánh Louis Monfort rằng: “Chúa đến trần gian qua con đường Mẹ Maria, Chúa cũng muốn chúng ta đến với Chúa qua Mẹ; chúng ta không thể đi con đường nào khác để đến với Chúa ngoài con đường chính Chúa đã đi để đến với chúng ta… Ơn cứu độ đến với chúng ta qua Mẹ Maria, thì Chúa cũng muốn mọi ơn khác chúng ta lãnh nhận được cũng phải qua trung gian đó.”[5] Thánh Công đồng Vaticano II đã dạy: “Vai trò làm mẹ của Đức Maria đối với loài người không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy.”[6] Chúng ta hãy xin Mẹ phú giúp, để khi cùng với Mẹ thưa tiếng “xin vâng,” chúng ta cũng luôn nhớ: “Thiên Chúa muốn chúng ta hợp tác trong việc tạo dựng cũng như trong việc cứu rỗi. Nếu Chúa làm một mình, công trình sẽ hoàn hảo hơn, nhưng con người sẽ kém ‘cao cả.’ Ta hãy theo phương pháp của Chúa.”[7] Hãy thưa “xin vâng” trong tín thác, thưa “xin vâng” trong mau mắn, thưa “xin vâng” trong sự cậy trông yêu mến. Ước gì việc ở với Chúa trong từng phút giây cuộc đời sẽ góp thêm nội lực để chúng ta có thể thưa “xin vâng” mau lẹ và dễ dàng như Mẹ.

Lạy Mẹ từ nhân, nguyện Mẹ thương đỡ nâng và đồng hành để chúng con không bao giờ chần chừ, lưỡng lự hoặc từ chối cơ hội ngày càng tiến sâu vào lịch sử cứu độ như Mẹ qua việc sống đời “xin vâng. ”

Lạy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời xin cầu cho chúng con.

Đáng chịu lấy những sự Chúa Kitô đã hứa.

Con cùng với Mẹ “xin vâng”

Cho tròn Thiên Ý, tròn dâng cuộc đời.

“Xin vâng” lời đẹp ngút trời

Cho Con Thiên Chúa làm người trần gian.

“Xin vâng” lối mở bình an

Muôn điều khó hiểu bay tan mây trời.

“Xin vâng” tâm sáng rạng ngời

Thuận theo Thiên Ý cuộc đời mở ra

“Xin vâng” còn có nghĩa là

Giống Con Thiên Chúa, như là Mẹ đây.

Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P     

[1] Màu nhiệm vui thứ nhất: “Thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ.”

[2] x. Tông huấn Đức Kitô đang sống số 44.

[3] x. Tông huấn Đức Kitô đang sống số 44.

[4] Youcat VN, số 479.

[5] Thánh Louis Monfort,1001 danh ngôn các thánh, 2009, Nxb Tôn Giáo, tr.89.

[6] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Ánh sáng muôn dân (ss.60-63).

[7] Đức Hồng Y Px, Nguyễn Văn Thuận, Đường hy vọng, số 584.

CÙNG MẸ CHIÊM NGẮM CUỘC ĐỜI

CUNG ME CHIEM NGAM CUOC DOI

CUNG ME CHIEM NGAM CUOC DOI

-CÙNG MẸ CHIÊM NGẮM MẦU NHIỆM CUỘC ĐỜI-

Cùng Mẹ chiêm ngắm mầu nhiệm cuộc đời. Tin Mừng theo thánh Luca 2,19 ghi lại: “Đức Maria hằng ghi nhớ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Nếu như năm xưa, Mẹ đã chuyên cần suy ngắm các mầu nhiệm cuộc đời của Mẹ bên cạnh Con để tìm thấy ‘bí quyết’ và lối đường đưa tới chỗ hiểu biết thâm sâu về Đức Kitô một cách dễ dàng; thì ngày nay đối với chúng ta, khi suy gẫm các mầu nhiệm Kinh Mân Côi, chúng ta cũng hiểu biết – yêu mến và tha thiết ở lại với Chúa Giêsu hơn. Quả vậy, “Lòng sùng kính Mẹ Maria, được khơi lên nhờ sự hiểu biết mối liên kết không thể tách rời giữa Đức Kitô với Mẹ Maria. Bởi vì, các mầu nhiệm của Đức Kitô theo một nghĩa nào đó cũng là các mầu nhiệm của Thân Mẫu Người,… vì Mẹ sống nhờ Người và qua Người.”[1]

Có thể nói, những nét tương đồng và mối dây gắn kết giữa mầu nhiệm cuộc đời của Đức Kitô, mầu nhiệm cuộc đời của Mẹ Maria với mầu nhiệm cuộc đời của mỗi người chúng ta ngày càng được xiết chặt, được kết liên, được hiện thực hóa ngang qua những lời Kinh Mân Côi được lặp đi lặp lại khi chúng ta suy niệm và đọc trên môi. Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh: “Theo các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi, lòng trí chúng ta có thể gồm tóm được tất cả những biến cố của đời sống mỗi người, của gia đình, quốc gia, của Hội thánh và của nhân loại, cả những ước muốn của cá nhân chúng ta, của những người lân cận, đặc biệt của tất cả những gì liên hệ đến những người thân thiết mà chúng ta thương mến. Quả thật, những lời đơn sơ của Kinh Mân Côi luôn hòa quyện với cuộc sống con người.”[2] Hơn nữa: “Trong khi lần chuỗi, không phải chúng ta lặp lại lời kinh chỉ vì lợi ích của chính lời kinh, mà vì lời kinh như là phương thế để đạt tới tình trạng suy gẫm về một Thiên Chúa sống động, hay một vài khía cạnh nào đó về Thiên Chúa… hoặc điều gì đó liên quan đến Thiên Chúa.”[3]  Và như thế, chắc chắn lời Kinh Mân Côi giúp ta ở lại với Chúa và yêu mến Người. Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: Hãy hướng lòng tưởng tượng và hướng tâm trí về một giai đoạn hay thời điểm đặc biệt trong cuộc đời Đức Kitô. Việc chiêm ngắm các mầu nhiệm trong Kinh Mân Côi, phác hoạ nên các yếu tố cơ bản trong cuộc đời Đức Kitô, thì nhờ các mầu nhiệm ấy, tâm trí cũng dễ dàng nắm bắt phần còn lại của Tin Mừng, nhất là khi Kinh Mân Côi được cầu nguyện trong khung cảnh của một cuộc suy niệm kéo dài.

Chiêm ngắm các mầu nhiệm Kinh Mân Côi là ta cùng với Mẹ đón nhận các mầu nhiệm cuộc đời; cùng với Mẹ đón nhận các mầu nhiệm cuộc đời, bằng việc suy ngắm các mầu nhiệm Kinh Mân Côi là ta kết liên với Chúa một cách mật thiết hơn. Cùng Mẹ đón nhận mầu nhiệm cuộc đời là chúng ta không do dự, không nghi ngờ; nhưng tin tưởng xác quyết như thánh Bênađô dạy: Nếu được Mẹ Maria nâng đỡ, nhất định ta không sa ngã. Nếu được Mẹ Maria bênh vực, nhất định ta không lo ngại điều gì. Nếu được Mẹ Maria dẫn đường, nhất định ta không bao giờ mỏi mệt. Nếu được Mẹ Maria ủng hộ, nhất định ta sẽ được cứu rỗi.[4] Cuộc đời của Mẹ là cuộc đời cưu mang Chúa; cuộc đời của Mẹ là cuộc đời ở với Chúa, cùng Chúa đồng hành, cùng Chúa thực thi thánh ý Chúa Cha. Cuộc đời Mẹ là cuộc đời vui, nhưng không thiếu lo âu lúc truyền tin; cuộc đời Mẹ là cuộc đời túng cực khó nghèo lúc sinh con; bôn ba khi đưa con trốn sang Ai Cập; đau khổ khi con bị sỉ nhục – chê bai – hành hạ…

Cùng với Mẹ đón nhận các mầu nhiệm cuộc đời như thế, chúng ta thấy được ý nghĩa – giá trị của đời mình. Ước gì chúng ta luôn biết gửi trao cuộc đời mình, vốn hằng chất chứa và không thể thiếu dấu vết những lo phiền, hãi sợ, đau khổ, bất an… vào vòng tay dịu hiền của Mẹ đầy ơn phúc. Nhờ đó, chúng ta được đỡ nâng, được thêm mạnh sức và vượt qua được những nỗi truân chuyên của kiếp nhân sinh khi hướng về cùng đích tối hậu là chính Đức Kitô.

Con cùng với Mẹ vào đời

Vui mừng chen lẫn lệ rơi từng ngày.

Suy chiêm niệm hát mê say

Kính Mừng Mẹ được phúc đầy Chúa ban

Nguyện xin Chúa xuống bình an

Cho đoàn con ở trần gian lữ hành

Hướng lòng con tới cao xanh

Kết liên với Chúa và thanh luyện mình

Con thành người tốt đẹp xinh

Tròn đầy ơn phúc hành trình tới nơi.

Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P       

[1] Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư kinh Mân Côi Đức trinh nữ Maria, số 24.

[2] Youcat VN, tr.354

[3] Terril D. Littrell.

[4] Y Phan CMC, 1001 danh ngôn các thánh, Nxb Tôn Giáo Hà Nội 2009, tr.90

 

MENU

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI CÚI MẸ NÚI CÚI HÀNH HƯƠNG TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN GIÁO PHẬN TƯ LIỆU NÚI CÚI CẦU NGUYỆN LIÊN HỆ
Hành hương
Hiệp ý
Menu
Thông báo
Đăng ký
Facebook Zalo TikTok YouTube
ĐĂNG KÝ