“Con Đường Giêsu” – Tuần XIII Thường Niên, Năm C

CN e 1

“Con Đường Giêsu”

CN 1

Hiệp Hành là căn tính của Giáo Hội mà Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 16 muốn nhìn lại “con đường Giêsu”. Chính Chúa Giêsu tự giới thiệu Ngài là “Con đường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14,6). Các kitô hữu, những người đi theo Chúa Giêsu, ban đầu được gọi là “những môn đệ của ‘Con Đường’ đó” (Cv 9,2).

Hành trình của Chúa Giêsu Phục sinh với hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13-35) là một minh họa sống động về một “Tiến trình hiệp hành” với 5 bước:

  • Hỏi và lắng nghe:Đức Giêsu Phục sinh hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? và hai môn đệ kể, Chúa Giêsu lắng nghe.
  • Giải thích: Đức Giêsu giải thích với Lời Chúa và cử hành Thánh Thể (bẻ bánh).
  • Hoán cải: Khi nhận ra Chúa rồi, hai môn đệ“hoán cải”,quyết định trở về Giêrusalem ngay lập tức.
  • Làm chứng:Tại Giêrusalem họ đã làm chứng cho Chúa Phục Sinh.
  • Làm chứng cho Chúa Phục sinhtrong lòng Giáo Hội với sự hiệp thông với thánh Phêrô. Trước khi hai ông kể lại việc gặp Chúa Phục sinh, các môn đệ khác đã nói :”Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon” (Lc 24,34).

Hiệp hành là cùng đi chung một con đường “con đường Giêsu” để đến với Chúa Cha trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần khai sáng cho chúng ta nhiều bài học hiệp hành từ Thánh Kinh: nhờ gặp gỡ Lời Chúa, lắng nghe tiếng Chúa, phân định ra ý Chúa, chúng ta hiệp thông với cộng đoàn, tham gia công việc của Giáo Hội, thi hành sứ vụ Chúa trao. Hiệp hành là phương cách sống và hành động là đặc trưng của Giáo Hội, dân Thiên Chúa.

Các Giáo Hội địa phương đang thực hiện tiến trình Hiệp Hành của THĐGM Cấp Giáo phận bao gồm 3 công việc được xác định bởi 3 câu hỏi:

– Mọi thành phần Dân Chúa hiệp thông với Giám mục, với các linh mục, “cùng đi trên con đường Giêsu” với câu hỏi khởi sự: chúng ta có đi đúng con đường Giêsu không, hay chúng ta đang lạc đường, đang đi vào con đường khác ?

– Khi cử hành THĐGM lần 16 này, mọi thành phần Dân Chúa cùng nhau tham gia, nghĩa là gặp gỡ, trao đổi, với trọng tâm là “lắng nghe nhau”. Việc lắng nghe này được gọi là “Thỉnh ý Dân Chúa”. Việc “Thỉnh ý Dân Chúa” nhằm cùng nhau khám phá “đâu là con đường Giêsu thực sự”, nghĩa là “con đường chúng ta đang đi có đạt được mục đích phải đến là Loan Báo Tin Mừng như Chúa Giêsu đã làm không?”.

–  Việc “Thỉnh ý Dân Chúa” còn giúp trả lời câu hỏi thứ ba, đó là “chúng ta phải làm gì để trở về đúng Con đường Giêsu”, hay phân định điều Chúa Thánh Thần muốn nói, muốn hướng dẫn giáo phận nhằm chu toàn sứ vụ Loan báo Tin Mừng.

 Phần thứ hai của Bài Tin Mừng hôm nay kể lại ba trường hợp xin đi theo làm môn đệ, muốn theo “con đường Giêsu”. Trong mỗi trường hợp Đức Giêsu đều yêu cầu người ta phải chọn lựa dứt khoát.

  • Với người thứ nhất, Đức Giêsu đòi hỏi phải chấp nhận cuộc sống thiếu thốn vật chất.
  • Với người thứ hai, Đức Giêsu đòi phải ưu tiên lo việc Chúa hơn gia đình.
  • Với người thứ ba, Đức Giêsu đòi phải một lòng một ý lo phục vụ Nước Thiên Chúa.

Chúa Giêsu mời gọi những ai muốn trở thành môn đệ của Người cần phải phân định để có một tinh thần siêu thoát.

  • Siêu thoát đối với những tiện nghi và của cải: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”. Ai muốn theo Chúa, phải lượng sức mình có đủ siêu thoát để chấp nhận cuộc sống thiếu thốn như Người, ngay cả chỗ tựa đầu cũng chẳng có chăng?
  • Siêu thoát đối với những trói buộc trần thế để ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”. Ai muốn trở thành môn đệ của Người, phải dành ưu tiên tuyệt đối cho việc loan báo Tin Mừng.
  • Siêu thoát khỏi những tình cảm riêng tư để dốc hết tâm lực cho việc loan báo Tin Mừng : “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”. Ai muốn theo Người, phải siêu thoát khỏi những mối tình cảm gia đình để thảnh thơi lo việc xây dựng Nước Thiên Chúa.

Ai muốn đi “Con đường Giêsu” cần phải dứt khoát trong chọn lựa.

  • Người thứ nhất hăng hái xin theo Chúa đi bất cứ nơi đâu. Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình. Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường. Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, không ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x.1Pr 2,11). Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu. Chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ. Chỗ tựa đầu cuối là thập giá.
  • Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã. Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con. Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x.Mt 15,3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng.
  • Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.Chúa Giêsu đòi anh ta dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa.

 

Ba người muốn xin đi theo để làm môn đệ của Chúa Giêsu. Thế nhưng, họ không dứt khoát chọn lựa như Êlisa (bài đọc 1), họ vẫn còn đắn đo kỹ lưỡng, chần chừ vì những lý do xác thịt và bịn rịn gia đình. Chúa Giêsu trả lời cho cả ba trường hợp là “hãy theo Ta” và đặt giá trị thiêng liêng lên trên mọi của cải vật chất. Theo Chúa lên Giêrusalem là đánh đổi cuộc đời quá khứ để lấy một tương lai mới, tuy vô định, đầy gian nan, bất trắc nhưng tươi sáng và chân thật hơn. Ba trường hợp khác nhau, nhưng đều chung một lời mời gọi từ Chúa Giêsu. Ba lời đối thoại trên cũng là ba đòi hỏi hướng đến điều răn thứ nhất: “Phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22, 37).

Theo Chúa phải can đảm, phải chọn lựa và ưu tiên tìm kiếm và loan báo về Nước Thiên Chúa trước, còn mọi chuyện khác, Chúa sẽ lo cho sau. Con đường đi tìm Chúa là con đường con đường của từ bỏ… Tuy nhiên, muốn đạt được hạnh phúc thật thì phải lựa chọn trong tinh thần dứt khoát.

Nếu cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, thì chính những chọn lựa ấy sẽ dệt nên cuộc đời riêng của mỗi người.

Nếu cuộc đời người Kitô hữu là một chọn lựa dứt khoát cho việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì đó chính là một chuỗi những lời đáp trả tiếng Chúa vang lên từng phút giây trong cuộc sống.

Nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường hay chọn mình: sở thích của mình, tự do của mình, hạnh phúc của mình, gia đình của mình… Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân. Nhưng Đức Giêsu lại dạy: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, còn mọi sự khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

Ơn gọi của Êlisa đến trong lúc ông đang cày ruộng, đang làm những công việc hàng ngày. Ơn gọi của Phêrô xảy đến khi ông đang thả lưới, của Môsê khi ông đang chăn chiên, của Mathêu khi ông đang ngồi bàn thu thuế… Ơn gọi tiêu biểu của mỗi cá nhân là ở trong bổn phận hàng ngày. Sống ơn gọi của mình là biết chọn lựa và ưu tiên. Đó cũng là lời mời gọi, hãy đơn giản hoá cuộc sống.

 

Là người kitô hữu, chúng ta đã chọn đi theo “con đường Giêsu”, tuân giữ những lời thề hứa trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa tội, thực thi mười điều răn của Thiên Chúa và sáu điều răn của Hội Thánh, sống tám mối Phúc thật và bảy mối tội đầu…Với những người sống đời hôn nhân: một vợ một chồng và tín trung suốt đời. Với những người sống đời độc thân linh mục, tu sĩ: vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh…Chúa muốn các môn đệ mình cũng phải đi cùng một hành trình như Ngài. Tuy nhiên, người ta có thể từ chối lời mời gọi của Ngài bằng nhiều cách: hoặc vì những thành kiến tôn giáo như dân làng Samaria; hoặc vì quá cậy dựa vào những bảo đảm vật chất, những quyến luyến gia đình và quyến luyến quá khứ. Ai muốn theo Ngài, phải dứt khoát với mọi thứ ràng buộc, cần có một con tim không san sẻ để luôn biết lo cho vinh quang Nước Trời.

 

Để sống bình an vui vẻ hạnh phúc, chúng ta đi theo “con đường Giêsu”. Chúa Giêsu đã hạ mình trở nên như tôi tớ rửa chân cho các môn đệ, để đến với người nghèo, bệnh nhân và tội nhân. Chúa Giêsu thích sự đơn sơ và bé nhỏ giữa đời thường. Bởi vậy, Ngài mới nhắn nhủ các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời ” (Mt 18,4). Chúa Giêsu đã gieo vào lòng thế giới giá trị của yêu thương và phục vụ trong đơn giản âm thầm.

 

“Con đường Giêsu” là con đường hẹp, không trải đầy nhung lụa mà là những gai nhọn và gian nan. Con đường ấy dẫn lối về hạnh phúc cho những ai dám từ bỏ mọi sự để sống cho Chúa, dám sống đời hèn mọn, dám sống đời tận hiến với quyết tâm thuộc trọn về Chúa suốt đời. Đó là Ơn Gọi cho những người bước đi theo Thầy Chí Thánh, họ luôn tìm thấy lẽ sống, ý nghĩa và cùng đích cho cuộc đời mình, họ có một cuộc sống đong đầy yêu thương hướng đến trọn lành.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thánh Thể, Mầu Nhiệm Đức Tin – Tuần XII Thường Niên, Năm C

CN2

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

CN2

Vì yêu thương nhân loại, Chúa Giêsu đã có một sáng kiến lạ lùng là lấy chính Thịt Máu của Ngài làm của ăn của uống để nuôi sống chúng ta. Chúa Giêsu đã khẳng định: Ngài là của ăn và của uống ban cho nhân loại hoàn toàn khác với manna và mạch nước trong sa mạc: “Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời”. Chúa Giêsu không nhằm thoả mãn cái đói cái khát thể xác. Thế nên, Ngài xác quyết: “Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống”. Vậy Bánh mà Ngài ban chính là Thịt Máu Ngài. Cụm từ “Thịt Máu” ở đây không những bao gồm tất cả những gì nuôi sống linh hồn con người để đưa đến sự sống vĩnh cửu, mà còn ám chỉ đến Mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã nhập thể mang lấy xác phàm trong thân phận con người và đã đổ máu ra trên Thập giá để cứu chuộc nhân loại. Ngài đã chấp nhận trở thành của ăn của uống là những cái thường tình nhất của cuộc sống chúng ta để đưa chúng ta đến sự sống vĩnh hằng.

Thánh Phaolô nhấn mạnh đến việc hiệp thông với Chúa Giêsu Thánh Thể là kết hiệp mật thiết với chính Chúa Kitô, nên giống Ngài trong tư tưởng, ngôn ngữ và cuộc sống: “Ai ăn Thịt Tôi và uống Máu tôi, người ấy sẽ ở trong Tôi và Tôi ở trong người ấy”. Không bí tích nào giúp chúng ta sống “với Chúa, nhờ Chúa và trong Chúa” bằng bí tích Thánh Thể. Từ đó, Thánh Phaolô dám khẳng định: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

  1. Phép lạ Thánh Thể tại Lanciano

Phép lạ Thánh Thể xảy ra tại Lanciano (Ý), năm 700 (sau công nguyên), đã được Giáo hội công nhận bằng sắc lệnh của giáo hoàng (Papal Bulls). Đây là phép lạ Thánh Thể đầu tiên được Giáo hội công nhận.

Trên Đồi Sọ, sau khi Chúa Giêsu trút hơi thở, một người lính La Mã đã lấy ngọn giáo đâm thủng trái tim Chúa Giêsu để cho Nước và Máu chảy ra. Người lính này đến từ Thành phố Lanciano. Lanciano có nghĩa là “lưỡi giáo” (lance). Máu và Nước từ Thánh Tâm Chúa Giêsu chảy theo lưỡi giáo xuống tay người lính này. Anh ta có thị lực yếu, khi anh ta lấy tay dụi mắt thì mắt sáng trở lại. Lòng Thương Xót bao la của Chúa Giêsu đã chảy trào vào anh ta, dù chính anh ta mới vừa đâm vào ngực Chúa Giêsu. Người lính đó tên là Longinô (Longinus). Anh ta đã được chữa lành và gia nhập đạo. Anh đã rời quân ngũ, rồi tới Cappadocia và chịu tử đạo vì đức tin. Ngày nay chúng ta tôn kính Thánh Longinô, lễ ngày 15 tháng Ba.

Linh mục đa nghi

Tại Lanciano, nơi xảy ra phép lạ Thánh Thể là Nhà thờ Thánh Domitian, nhà thờ này do các tu sĩ Dòng Basilian coi sóc. Có một tu sĩ linh mục Dòng Basilian, tên là Thomases, đã nghi ngờ sự hiện hữu thật của Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thời đó có nhiều tà thuyết nổi lên đã làm lung lay đức tin của Lm Thomases.

Một buổi sáng nọ, Lm Thomases dâng Thánh lễ mà vẫn nghi ngờ. Đến phần truyền phép, có điều lạ xảy ra trên đôi tay khiến toàn thân Lm Thomases rung động: Bánh biến thành Thịt thật, Rượu biến thành Máu thật. Lm Thomases lặng người một lúc rồi từ từ đưa lên cho mọi người thấy và nói: “Ôi chứng cớ hữu hình của Chúa để xóa bỏ sự nghi ngờ của tôi, Ngài muốn mặc khải chính Ngài trong bí tích Thánh Thể hoặc để chúng ta nhìn thấy tỏ tường. Anh chị em hãy đến chiêm ngưỡng phép lạ của Chúa. Đây là Mình Máu Thánh Đức Kitô”. Mọi người tận mắt chứng kiến phép lạ nên sững sờ, kêu than, xin tha thứ và xin xót thương. Đức tin của linh mục Dòng Basilian đã được biến đổi. Biết tin, cả thành phố và mọi người khắp nước đã tuôn về Lanciano để chiêm ngưỡng phép lạ Thánh Thể. Đức tin của mọi người đối với bí tích Thánh Thể đã được tái sinh.

Khoa học công nhận phép lạ tại Lanciano

Qua nhiều năm, nhiều cuộc xét nghiệm đã được thực hiện để xác định phép lạ Thánh Thể tại Lanciano. Đây là kết quả khoa học được thực hiện năm 1970, với các dụng cụ tân tiến nhất:

  • Mình Thánh là thịt thật. Máu Thánh là máu thật.
  • Thịt có cơ tim (myocardium).
  • Trong Mình Thánh và Máu Thánh đều có loại máu AB+ như nhau.
  • Trong Máu Thánh có các protein như trong máu bình thường.
  • Trong Máu có các khoáng chất clo-rua (chlorides), phốt-pho, ma-nhê, na-tri (sodium) và can-xi.
  • Mình Máu Thánh vẫn tươi nguyên suốt 12 thế kỷ qua, dù không dùng hóa chất bảo quản. Đây là hiện tượng kỳ lạ vô cùng.

Chứng cớ khác thường

Nhiều người Công giáo đã biết Khăn liệm Turin (Shroud of Turin) vẫn còn cho tới ngày nay, trên tấm khăn có hình một đàn ông chết sau khi bị đóng đinh. Truyền thống Công giáo công nhận đó là tấm khăn liệm xác Chúa Giêsu.

Năm 1978, một nhóm khoa học gia thuộc cơ quan không gian NASA (National Aeronautics and Space Administration) đã khám kỹ tấm khăn liệm Turin bằng các dụng cụ tân tiến nhất của cơ quan không gian thời đó. Họ đã phải công nhận đó là tấm khăn liệm Chúa Giêsu thật. Phát hiện quan trọng là có những vết máu trên tấm khăn liệm. Máu đó cũng là loại máu AB+, giống như máu trong phép lạ Thánh Thể tại Lanciano.

Tình yêu vĩ đại của Chúa Giêsu

Ngay từ đầu, Giáo hội địa phương đã công nhận phép lạ này là dấu chỉ thật từ trời, và tôn kính Mình Máu Thánh được thể hiện qua cuộc rước vào ngày lễ này – Chúa Nhật cuối tháng Mười.

Trong phép lạ Thánh Thể tại Lanciano, Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta chính Thánh Tâm và Máu Ngài. Điều này giúp chúng ta hiểu được sự hy sinh cao cả và tình yêu bao la của Chiến Thiên Chúa trong mỗi Thánh lễ. Ngài trao chính Mình Máu Ngài để chữa lành và nuôi dưỡng linh hồn chúng ta hằng ngày (x. Bài giảng Thánh Lễ Tiệc Ly Thứ Năm Tuần Thánh 2022, Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng).

  • Bí tích Thánh Thể là xa lộ đưa Carlo Acutis về thiên đàng.

Trong cuộc đời 15 năm ngắn ngủi,Carlo Acutis đã khiến hàng ngàn người cảm động vì đức tin và lòng sùng kính sâu sắc của Carlo đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Khi còn là một cậu bé, đặc biệt là sau khi Rước lễ lần đầu, Carlo không ngày nào bỏ Thánh lễ, lần chuỗi Mân Côi và chầu Thánh Thể.

Thiếu niên Carlo Acutis được Giáo Hội phong Chân Phước vào ngày 10 tháng 10 năm 2020. Cậu là đứa trẻ ngoan đạo, tham dự thánh lễ hàng ngày, thường xuyên lần chuỗi Mân côi và đi xưng tội hàng tuần.

Carlo Acutis có biệt tài về máy tính. Cậu có nhiều lập trình có lợi cho đời sống con người và cho Hội Thánh. Đặc biệt, Carlo Acutis gầy dựng một trang web sưu tầm tất cả các phép lạ về Thánh Thể trên toàn Thế giới.Cậu cũng từng tổ chức một triển lãm quốc tế trình bày những sự kiện, những phép lạ liên quan đến bí tích Mình Máu Chúa Kitô.

Vì lòng yêu mến và sùng kính đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể, mà ngày phong chân phước cho Carlo được Tòa Thánh công bố ngay trước ngày mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa.

Carlo Acutis cho biết, sống kết hợp với Chúa Giêsu là kế hoạch trong cuộc đời của cậu. Cậu hạnh phúc vì đã cố gắng không làm mất lòng Chúa, không lãng phí thời gian nhưng luôn tìm cách kết hiệp với Chúa.

Carlo cũng cho hay, cùng đích của con người là sự vĩnh cửu, chứ không phải là hữu hạn. Vĩnh cửu là quê hương thật. Loài người luôn chờ mong được về Thiên đàng, và Bí tích Thánh Thể chính là con đường dẫn tới thiên đàng…Cậu quan niệm: Lúc bạn thực sự có một trái tim trong sạch, bạn sẽ dễ dàng cảm hóa và đụng chạm đến trái tim của tha nhân…Carlo thực sự mang Chúa Giêsu trong tim và sống rất đơn sơ, vô tội. Đức Tổng Giám Mục Sorrentino, Tổng giáo phận Assisi, nói: Cậu Carlo có một tình yêu trổi vượt dành cho Bí tích Thánh Thể, đó là xa lộ đưa cậu về thiên đàng.

  3.Bí Tích Thánh Thể là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa ban cho nhân loại.

Tất cả mầu nhiệm Đức Kitô đều hội tụ trong Bí tích Thánh thể. Từ công cuộc nhập thể làm người, rao giảng tin mừng, đến khổ hình thập giá, sống lại vinh quang; Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha và ban lương thực thần thiêng đều hàm chứa trong Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh thể gói trọn cuộc đời Chúa Kitô và không có gì thuộc về Người mà không hội tụ trong Bí Tích Thánh thể.Bí tích Thánh thể là một sáng kiến của tình thương Thiên Chúa.Của ăn vật chất chỉ dừng lại ở việc nuôi dưỡng, bảo tồn sự sống hữu hạn của con người.Để sống đời đời, con người được mời gọi ăn và uống Thịt Máu Chúa, nguồn ơn cứu độ nhân loại.

Thánh Thể là trung tâm qui tụ Dân Chúa. Thánh Lễ là nguồn mạch và là chóp đỉnh của đời sống đức tin người Công giáo. Lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta được tham dự vào sự sống thần linh của Chúa Ba Ngôi.

Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, bạn nên quỳ gối trước Thánh Thể, bạn sẽ học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.

Thánh lễ cần được nối dài trong cuộc sống thường ngày. Khi cánh cửa nhà thờ khép lại, thánh lễ giữa lòng cuộc đời mở ra. Sống đạo trong nhà thờ, thực hành đạo ngoài cuộc đời. Mỗi người tín hữu phải trở nên muối ướp cho xã hội khỏi ươn thối, phải trở nên men làm cho xã hội dậy lên hương thơm thánh thiện, phải trở nên ánh sáng phá tan bóng tối đang bao phủ xã hội. Và như vậy, cuộc đời chính là thánh lễ nối dài. Bài hát quen thuộc của cha Thành Tâm: “Ta về thôi vì Thánh lễ đã hết, nhưng đời ta là thánh lễ nối dài, mang tình thương Thiên Chúa đến mọi nơi, ta sống sao để thành chứng nhân!”. Thánh lễ nào cũng kết thúc và mọi người ra về bình an, nhưng Thánh lễ sẽ không tạm biệt, không chia tay với cuộc sống đời sống. Hoa quả của Thánh Lễ, hoa quả của Bí Tích Thánh Thể chính là lối sống, hành vi, lời ăn tiếng nói, cách cư xử của mỗi người tín hữu với tha nhân.

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, “Nữ Vương Thánh Thể”, xin Chúa cho chúng ta được lòng yêu mến Thánh Thể thực sự, biết tập dành thời gian đến với Thánh Thể và đến với tha nhân qua việc yêu thương phục vụ.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin Chúa ban cho chúng con thêm lòng yêu mến Chúa và siêng năng tham dự Thánh lễ, rước Mình và Máu Chúa cách xứng đáng; đồng thời luôn xác tín Bí tích Thánh Thể chính là “nguồn mạch và chóp đỉnh” của đời sống Giáo Hội và nơi mỗi người chúng con. Amen.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CN1

” Thiên Chúa Ba Ngôi hiệp hành với Giáo Hội ” Lễ Chúa Ba Ngôi – Tuần XI Thường Niên, Năm C

CN e

CN

“Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước” (Thư Chung HĐGMVN năm 2011, số 19).

Giáo hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại (x.GH1; GLCG số 772). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo hội. Giáo hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các bí tích.

  1. Nguồn gốc của Giáo Hội

“Giáo hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc được đoàn tụ nhờ mối hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (LG 4). Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn cội của mọi sự; vậy, Người cũng là căn rễ, là nền tảng của Giáo hội. Hơn nữa, mạc khải đã cho thấy rõ chỗ đứng độc đáo của Giáo hội trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi.Vì thế, ngay ở chương đầu của Hiến Chế về Giáo hội, công đồng Vaticanô II đã xác định là Giáo hội phát sinh từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là từ sáng kiến của Chúa Cha, từ khôn ngoan của Chúa Con, và từ tình yêu của Chúa Thánh Thần. Giáo hội cũng là nơi kế hoạch của Thiên Chúa diễn tiến, là nơi hội tụ sứ mạng của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần.

Tình yêu của Thiên Chúa đi trước tình yêu của con người. Giáo Hội không phải là công trình của con người, nhưng là sáng kiến của Thiên Chúa. Giáo Hội luôn được Chúa Cha nghĩ  đến trong chương trình cứu độ, được chuẩn bị trong lịch sử giao ước với Israel, và được thiết lập ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.

Cũng như Đức Giêsu, Giáo Hội xuất hiện tự trời cao. Nguồn gốc của Giáo Hội không phải ở dưới đất, nhưng từ Thiên Chúa. Chính từ trời mà Con Thiên Chúa đã đến thế gian, mặc lấy xác phàm, để làm cho nó được sống bằng sự sống của Ba Ngôi.Qua mầu nhiệm Phục sinh, Thần Khí đã đi vào thế giới cách viên mãn và vĩnh viễn, để thời gian của con người trở thành thời kỳ cánh chung, thời kỳ xen giữa hai lần Đức Kitô đến. Đây cũng là thời kỳ Chúa Thánh Thần hoạt động trong lịch sử nhân loại. Giáo Hội được sinh ra từ sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Giáo Hội là một ân huệ, một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa. Người ta không làm ra Giáo Hội, nhưng chỉ lãnh nhận. Giáo Hội như vầng trăng, toả chiếu ánh sáng của Mặt Trời duy nhất là Đức Kitô.

Giáo Hội nhất thiết là một Giáo Hội dấn thân, không phải để tìm kiếm lợi lộc như những kẻ có quyền trong thế gian, nhưng đứng về phía người nghèo, vì chính Giáo Hội cũng nghèo và yếu đuối, nhưng tin tưởng vào sức mạnh của Chúa Tử Nạn và Phục Sinh. Một Giáo Hội đồng hành với con người, dâng lên Thiên Chúa những lời van xin và nước mắt của họ. Đồng thời Giáo Hội cũng có khả năng loan báo cho họ Nước Thiên Chúa đang đến, một Nước khác hẳn những suy nghĩ thiển cận của con người. Một Giáo Hội loan báo niềm vui và hy vọng mà Giáo Hội có được nhờ sự vâng phục của Chúa Kitô. Một Giáo Hội tự do, không thoả hiệp với thứ luận lý của quyền lực thế gian. Tuy nghèo khó và phục vụ, nhưng Giáo Hội lại là tiếng của con người thưa lên Thiên Chúa và tiếng của Thiên Chúa nói với con người (x. Giáo Hội, hình ảnh của Ba Ngôi, Lm Micae Trần Đình Quảng).

  1. Hiệp hành trong Ba Ngôi Thiên Chúa

Công đồng Vaticanô II dạy rằng: “Giáo hội phổ quát xuất hiện như ‘một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’” (Hiến chế LG số 4). Sự hiệp nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa luôn là khuôn mẫu cho sự hiệp nhất của Giáo hội. Nói cách khác, vì Giáo hội có nguồn gốc từ Ba Ngôi Thiên Chúa nên mầu nhiệm hiệp nhất của Ba Ngôi được phản chiếu nơi Giáo hội. Sự hiệp nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa luôn là căn nguyên của mọi loài hiện hữu. Việc tạo dựng và cứu chuộc luôn là một hành động tình yêu tự do của Thiên Chúa. Vì yêu và muốn thông ban nên Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài muôn vật. Cũng vì yêu và muốn thông ban tình yêu nên Thiên Chúa luôn mời gọi chúng ta hiệp nhất với Ngài…

Thiên Chúa hiệp hành trong chính nội tại của Ngài, nên Ngài cũng luôn hiệp hành trong nhiệm cục, và chính từ sự hiệp hành đó mà có muôn loài hữu hình và vô hình.

Luôn có sự hiệp hành nơi Chúa Con và Chúa Thánh Thần và đặc biệt trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Chúa Thánh Thần được gửi đến trong Nhân tính của Đức Giêsu qua ơn thường sủng để đồng hành với Đức Giêsu trong các hành động và lời nói giảng dạy của Ngài nơi sứ vụ cứu chuộc. Từ các phát xuất nội tại của Thiên Chúa mà sứ vụ hữu hình và vô hình của Chúa Con và Chúa Thánh Thần nơi thụ tạo phát xuất ra. Vì thế, không thể nói tới sứ vụ hữu hình của Đức Giêsu mà không nhắc tới sứ vụ vô hình của Chúa Thánh Thần trong công trình cứu độ. Giống như các hành động của Đức Giêsu đều bắt nguồn và hướng về Chúa Chua, sứ vụ của Chúa Thánh Thần cũng có nguồn gốc từ Chúa Cha và Chúa Con để quy tụ thụ tạo về vương quyền của Thiên Chúa thông qua Nhân tính của Đức Giêsu. Sứ vụ này vẫn được tiếp tục nơi Giáo hội mà Đức Giêsu thành lập. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động nơi Giáo hội được Chúa Giêsu xây dựng trên nền tảng của các Tông đồ, như một Israel mới nhằm đưa mọi thụ tạo quy về vinh quang Thiên Chúa. (xem thêm: “Cội nguồn chiều kích hiệp hành trong Giáo hội Công giáo”, Nội san Thần học số 106, tháng 6 năm 2022).

  1. Giáo hội tiếp tục sứ mạng hiệp hành của Đức Giêsu Kitô

Việc loan báo triều đại Nước Thiên Chúa được bắt đầu từ khi Đúc Giêsu chính thức thi hành sứ vụ công khai của Ngài. Ngài loan báo về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa bằng việc chọn gọi các Tông đồ và thiết lập Nước đó ở giữa nhân loại. Giáo hội được thiết lập trên nền tảng các Tông đồ có sứ mạng quy tụ muôn dân nước về vương quyền của Thiên Chúa. Truyền thống Tông truyền được thiết lập từ các Tông đồ trở nên như khí cụ cho việc hiệp hành trong Giáo hội và trên toàn thế giới. Sự hiệp hành qua Truyền thốngTông truyền không những được thể hiện qua cơ cấu phẩm trật hữu hình mà cả trong cơ cấu vô hình của Giáo hội. Vì được Thánh truyền hướng dẫn, các thành phần trong Giáo Hội luôn quy hướng về một đức tin chân thật…

Nơi Bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa Ba Ngôi tiếp tục hiệp hành với nhân loại. Sự hiệp hành được cụ thể hoá nơi người tín hữu. Mỗi khi chúng ta thi hành việc bác ái, đặc biệt cho những người nghèo khó, bệnh tật, đau khổ và bị bỏ rơi là chúng ta đang phỏng lại các phát xuất nơi Thiên Chúa Ba Ngôi trong con người chúng ta. Sự hiệp hành nội tại nơi Thiên Chúa Ba Ngôi được nối dài ra trong sứ vụ của các Ngôi Vị trong nhiệm cục cứu độ và được tiếp tục nơi mỗi người. Chính vì vậy, có thể nói hiệp hành là cách thức mà Thiên Chúa sử dụng để đưa chúng ta trở về với Ngài. Từ sự hiệp hành nội tại Thiên Chúa, Ngài hiệp hành với chúng ta trong nhiệm cục. Và vì được tham dự vào sự hiệp hành đó, chúng ta, qua Giáo hội được mời gọi hiệp hành với nhau để có thể tiến về hiệp hành với Thiên Chúa cách trọn hảo trong tình yêu và vinh quang của Ngài. (xem thêm: “Cội nguồn chiều kích hiệp hành trong Giáo hội Công giáo”, Nội san Thần học số 106, tháng 6 năm 2022).

Nhìn lên cung thánh, chúng ta thấy Thánh Giá,Nhà Tạm,Bàn Thờ.Đó là trung tâm niềm tin của người Kitô hữu.

Trên Thánh Giá,Đức Kitô đã tự hiến làm hy lễ dâng lên Chúa Cha.Ngài tự nguyện chịu đau khổ,chịu chết trong tinh thần vâng phục và yêu mến đối với Cha,để thiết lập giao ước mới với Giáo hội trong máu của Ngài.Ngài đã phục sinh về với Cha nhưng vẫn luôn ở lại với Giáo hội qua Bí Tích Thánh Thể mà Nhà Tạm là nơi Ngài hiện diện thường trực.

Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô. Khi linh mục cử hành thánh lễ là tưởng niệm hy lễ thập giá và cử hành mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô. Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi Linh mục đọc Lời Truyền Phép là khi Chúa Kitô nói qua môi miệng của Linh mục. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa Linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa.

Ba Ngôi sống bằng một lương thực thần linh,cùng một sự sống đó là tình yêu thần linh.Chúng ta được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi khi đi vào cử hành mầu nhiệm vượt qua trong thánh lễ.Với chúng ta sự sống ấy là sự sống của Đức Kitô,Mình và Máu Đức Kitô trao ban qua Thánh Thể: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6,34).Khi chia sẻ chén hiệp thông của Ba Ngôi,chúng ta được mời gọi hiệp thông với nhau để trở nên một như Ba Ngôi là một (Ga 17,21).

Khi đọc kinh trong nhà thờ hay tại gia đình, chúng ta đều bắt đầu bằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Làm dấu trên trán, chúng ta tuyên xưng Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Làm dấu trên ngực, chúng ta tuyên Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người. Làm dấu trên hai vai chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Dấu chữ thập mà chúng ta làm chỉ thánh giá của Chúa Giêsu, nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với nhân loại.

Dấu thánh giá là lời tuyên xưng đức tin vắn tắt nhất của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác. Lời kinh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần tóm tắt đức tin mà chúng ta đã nhận lãnh khi chịu phép rửa tội, mà nội dung là ba điều khoản lớn của đức tin công giáo, điều khoản thứ nhất tuyên xưng Chúa Cha, điều khoản thứ hai tuyên xưng Chúa Con, điều khoản thứ ba tuyên xưng Chúa Thánh Thần và Hội thánh. Như vậy cách thực tế và đơn giản nhất để tôn vinh Chúa Ba Ngôi là chúng ta hãy làm dấu thánh giá cách sốt sắng và ý thức, với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, cảm tạ Chúa ngự trong tâm hồn con. Xin giúp con nhận ra Chúa luôn ở trong con và nơi anh chị em con. Amen. 

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

 

“Hãy lắng nghe bằng con tim” Lễ Thăng Thiên – Chúa Nhật VII Phục Sinh, Năm C

CN e

CN 1

“Hãy lắng nghe bằng con tim”

Lễ Chúa Giêsu lên trời, Giáo Hội chọn làm ngày Quốc tế Truyền thông. Ngày nay, các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội phát triển rất nhanh. Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng. Chủ đề của Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 56 năm nay là “Hãy lắng nghe bằng con tim”.

Lễ Thăng Thiên kính nhớ việc Chúa Giêsu “lên trời”, được cử hành vào ngày thứ 40 sau Lễ Phục Sinh (x. Mc 16, 19-20; Cv 1,1-11).

Sự kiện Chúa Giêsu thăng thiên đánh dấu việc Người trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể (x. Ga 3,13). Lễ này nói lên việc nhân tính của Người tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn (x. Ga 16,28; 17,5). Nó đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Chúa Giêsu ở trần gian và khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội. Vào chính ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu đã được tôn vinh, được siêu thăng và “ngự bên hữu Chúa Cha” trong thân xác vinh quang của Người rồi. Tuy nhiên, theo trình thuật của Thánh Luca, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu còn hiện ra nhiều lần với các môn đệ trong khoảng thời gian 40 ngày. Đây là thời gian Chúa Giêsu dùng để khẳng định sự Phục Sinh của Người, củng cố niềm tin của các môn đệ, hoàn tất việc giảng dạy và sai các ông đi rao giảng Phúc Âm.Với biến cố thăng thiên, Chúa Giêsu không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo Hội cho đến ngày tận thế (x. Mt 28,20) theo phương cách mới – theo quyền năng của Chúa Thánh Thần, với tư cách là Chúa của vũ trụ (x. Pl 2,10-11). (x.Tiểu ban Từ vựng – UBGLĐT/HĐGMVN).

Chúa lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Theo Thánh Kinh, ngự bên hữu nghĩa là đồng hàng trong danh dự, phẩm vị và quyền năng. Chúa Giêsu lên trời sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ. Người lấy lại vinh quang, uy quyền và danh dự của một Thiên Chúa đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người lấy lại những sự ấy là vì đã tự nguyện trút bỏ nó khi vào trần gian để thực thi chương trình cứu độ. “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).

Chúa lên trời vì Người đã từ trời xuống: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Mầu nhiệm Chúa lên trời minh chứng cho nguồn gốc thần linh của Đức Kitô. Người không phải là phàm nhân được tôn lên hàng thần thánh. Người chính là Thiên Chúa có từ đời đời và mọi sự, mọi loài nhờ Người mà được hiện hữu. “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa…Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3).

Chúa lên trời với cung cách hiện diện mới, trao sứ vụ cho các Tông đồ và Giáo hội tiếp nối con đường hiệp hành “con đường Giêsu” để thực thi sứ mạng loan báo Tin mừng yêu thương.

  1. Hiện diện mới

Chúa Giêsu đã tiên báo với các môn đệ : “Thầy đến cùng Chúa Cha”. Lời này được lập lại 7 lần trong khung cảnh tiệc ly (x.Ga 14, 12.28; 16, 5.10.28; 17,11.13), đến nỗi trong số các môn đệ tự hỏi lời nói đó có ý nghĩa gì (Ga 16,17). Đối với Chúa Giêsu, Người không đi đến một nơi nào khác, nhưng Người đến với một người, đó chính là Chúa Cha. Chúa Giêsu coi cuộc sống ở trần gian và những hoạt động của mình như một hành trình đi đến với Chúa Cha, như một cuộc về trời với Chúa Cha. Khi hiện ra với Maria Madalena, Chúa Phục Sinh nói: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em (Ga 20,17). Như thế, Gioan không kể về việc “lên cùng Chúa Cha” như một “nơi chốn”, Người không đến một nơi chốn (trời), nhưng đến với một người, đó chính là “Cha của Người và cũng là Chúa của anh em”.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt.Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới. Các lời nguyện và Kinh Tiền Tụng của lễ Thăng Thiên cũng chứa đựng ý nghĩa này: “Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là đầu và là Thủ Lãnh, nên Người đã đi trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”.

Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14,23). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này, Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được”(Ga 15,5).

  1. Trao Sứ Vụ

Chúa về trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống, dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu. 

  1. Truyền thông và hiệp hành

Giáo Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế giới Truyền thông.Toàn thể Dân Chúa khắp nơi đang tích cực thực hiện tiến trình của Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới lần thứ 16 vào năm 2023, bắt đầu từ cấp giáo phận, với chủ đề : “Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành : hiệp thông – tham gia – sứ vụ”. Để có được lối sống hiệp hành như thế, cần làm ba việc như Đức Kitô phục sinh đã làm đối với hai môn đệ trên đường Emmaus (x. Lc 24, 13-35). Trong bài giảng khai mạc Thượng Hội Đồng (10/10/2021), Đức Thánh Cha Phanxicô đã chỉ rõ có 3 việc cần làm là: Gặp gỡ trực tiếp; Lắng nghe và Phân định. Chúa Giêsu đã lắng nghe bằng con tim, với thái độ bình tĩnh và kiên nhẫn. Chúng ta cần lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau.

Trong sứ điệp Truyền thông năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh những điểm quan trọng: lắng nghe bằng con tim, lắng nghe là điều kiện giao tiếp tốt, và lắng nghe trong Giáo hội.

  1. Lắng nghe là điều kiện giao tiếp tốt

Lắng nghe là bước đầu tiên không thể thiếu của đối thoại và giao tiếp tốt. Người ta không thể làm truyền thông nếu không lắng nghe trước và không thể trở thành một nhà báo tốt nếu không có khả năng lắng nghe. Hơn thế nữa, cần phải lắng nghe nhiều nguồn để có độ chính xác của thông tin muốn truyền tải. Và điều đặc biệt là phải lắng nghe kiên nhẫn, điều này không dễ, như Đức Hồng y Agostino Casarli, một nhà ngoại giao lớn của Toà Thánh đã nói về “tử đạo của kiên nhẫn”. Đối với Đức Hồng y, trong các cuộc đàm phán cần lắng nghe và được lắng nghe kiên nhẫn để đem lại lợi ích tốt nhất có thể trong điều kiện tự do bị giới hạn.

  1. Lắng nghe trong Giáo hội

Đức Thánh Cha mời gọi trong Giáo hội, mọi người cần phải lắng nghe người khác và lắng nghe nhau, vì đây là món quà quý giá nhất mà các tín hữu có thể dành cho nhau. Và điều này phải được thể hiện cụ thể trong hoạt động mục vụ, như Thánh Tông đồ Giacôbê khuyên: “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói” (Gc 1,19). Dành thời gian để lắng nghe người khác là cử chỉ đầu tiên của bác ái.

Hướng đến tiến trình hiệp hành của toàn thể Giáo hội đang thực hiện, Đức Thánh Cha mời gọi: “Chúng ta hãy cầu nguyện để đây là một cơ hội tuyệt vời cho mọi người lắng nghe nhau. Thực tế, hiệp thông không phải là kết quả của các chiến lược và chương trình, nhưng được xây dựng trong sự lắng nghe nhau. Như trong một dàn hợp xướng, sự hiệp nhất không đòi hỏi phải giống nhau, đơn điệu nhưng là sự đa dạng của các giọng khác nhau. Mỗi người khi hát cần lắng nghe người khác để tạo nên sự hoà hợp tổng thể. Sự hoà hợp các giọng ca là ý tưởng của nhà soạn nhạc, nhưng hiện thực nó thì phụ thuộc vào mỗi giọng ca. Trong Giáo hội, Thánh Thần là nhà soạn nhạc.

Truyền giáo là truyền rao sứ điệp cứu rỗi của Tin Mừng nên mới có những người lắng nghe, đón nhận đức tin và được sống trong ơn cứu rỗi. Truyền giáo là nghĩa vụ “thông truyền điều đã thấy và đã nghe” (1Ga1,3) để mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông công giáo.Trong khi truyền thông xã hội khai thác thông tin theo quy luật cung cầu của thị trường, thì truyền thông công giáo lại xác định hướng đi của mình là mùa màng trong đời sống đức tin.

Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích tín hữu vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Ngay từ khi internet lần đầu tiên xuất hiện, Giáo hội luôn tìm cách thúc đẩy việc sử dụng nó để phục vụ cho sự gặp gỡ giữa mọi người và cho sự đoàn kết giữa tất cả mọi người” (Sứ điệp Truyền thông 2019).

Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông 53, Đức Thánh Cha Phanxicô ghi nhận tầm quan trọng và sự lan rộng của internet và các mạng xã hội trong đời sống con người ngày nay. Đó là nguồn kiến thức và những tương quan giữa con người với nhau. Tuy nhiên, cũng không thiếu những khía cạnh tiêu cực do các mạng xã hội. Đó là nơi dễ bị những tin tức giả mạo và xuyên tạc xâm nhập và lan tràn; các dữ kiện cá nhân nhiều khi bị lèo lái để mưu những lợi lộc về chính trị hoặc kinh tế, không tôn trọng nhân vị và các quyền của họ. Sứ điệp cũng cảnh giác chống lại sự tự cô lập qua các mạng xã hội, có hiện tượng những người trẻ trở thành “những ẩn sĩ xã hội”, trở nên hoàn toàn xa lạ với xã hội chung quanh.(x.vaticannews.va/vi).

Nếu Chúa Giêsu sinh ra trong thời đại này, Người sẽ dùng internet để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô là nhà truyền thông đầu tiên, vĩ đại, đại tài vì sứ điệp của Người là Tin Mừng, là tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu có mạng lưới gồm các Tông đồ thông truyền Tin Mừng cho nhân loại. Qua các môn đệ,Tin Mừng được loan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.Chúa Giêsu không có các phương tiện hiện đại, Người có các Tông đồ, các môn đệ, các thế hệ nối tiếp nhau như mạng lưới phổ biến Tin Mừng khắp nơi trên thế giới.

Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin mừng cứu độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ lắng nghe nhau trong xây dựng yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.

Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại. “Truyền thông, dù ở đâu và bằng cách nào, cũng mở ra những chân trời rộng lớn hơn cho nhiều người. Đây là quà tặng của Thiên Chúa kèm theo một trách nhiệm lớn lao”; “Internet có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội lành mạnh và mở ra để sẻ chia” (Sứ điệpTruyền thông 50).

Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với đức tin, trong sự lắng nghe bằng con tim và tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để góp phần cổ võ nền văn hóa gặp gỡ và tích cực loan báo tin vui bình an yêu thương.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

MENU

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI CÚI MẸ NÚI CÚI HÀNH HƯƠNG TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN GIÁO PHẬN TƯ LIỆU NÚI CÚI CẦU NGUYỆN LIÊN HỆ
Hành hương
Hiệp ý
Menu
Thông báo
Đăng ký
Facebook Zalo TikTok YouTube
ĐĂNG KÝ