Lễ lá: xác định lại con đường theo Chúa

ttttthhhhh

(DMNC) Đối với đời sống của người Công giáo, Lễ Lá là một ngày kỷ niệm sự kiện Chúa Giê-su tiến vào thành Giê-ru-sa-lem trước khi Ngài chịu khổ hình vì tội lỗi nhân loại. Hình ảnh Chúa Giê-su tiến vào thành trên lưng lừa hơn 2000 năm trước được chào đón bằng những tiếng tung hô, nhành lá cọ trong tay. Thế nhưng vừa mới tung hô xong, họ lại đả đảo đẩy Người vào cái chết trên thập giá.

Tại sao người ta lại thay lòng đổi dạ nhanh như thế?. Câu hỏi này cũng đặt lại cho đời sống đức tin của người tín hữu ngày hôm nay, cần xác định lại con đường theo Chúa, để sống đúng với ơn gọi làm người và là môn đệ Chúa Giêsu. Rằng Ngài vào thành không phải để được tôn vinh, kính trong mà muốn đem một sự bình an cho toàn thế giới, muốn mỗi người vững bước trên hành trình ơn gọi là con cái của Chúa nơi cuộc sống trần thế này.

1 1
Chúa Giê-su tiến vào thành Giê-ru-sa-lem được chào đón bằng những tiếng tung hô, nhành lá cọ trong tay

Theo như truyền thống của người Do Thái, lá cọ là một trong bốn loại thực vật tượng trưng cho niềm vui. Còn biểu tượng con lừa theo truyền thống phương Đông chính là con vật tượng trưng cho hòa bình. Tại sao Chúa không chọn ngựa? Vì so với ngựa là con vật tượng trưng cho chiến tranh. Khi một vị vua cưỡi ngựa đi chiến đấu có nghĩa là ông đang muốn chiến tranh, còn nếu vua cưỡi lừa thì tức là ông đến trong hòa bình… Theo đó, việc chúa Giêsu cưỡi lừa tới thành Giê-ru-sa-lem trở thành biểu tượng của hòa bình, không phải một vị vua ưa chiến tranh mà mang đến an bình, sự sống và vinh quang bất diệt cho toàn thế giới.

Chúa Nhật Lễ Lá diễn đạt trong tâm trí mỗi người một cuộc rước vào thành Giê-ru-sa-lem và giục người tín hữu tham dự bằng cách nhìn nhận và suy tôn Chúa là Vua và là Đấng cứu chuộc trần gian, đồng thời tự nguyện bước theo Chúa vào con đường khổ giá để được thông công với Người trong vinh quang.

Theo truyền thống thì việc tưởng nhớ Chúa Giêsu vào thành Giê-ru-sa-lem sẽ được cử hành bằng cuộc rước trọng thể. Đầu tiên, vị chủ tế sẽ làm phép lá trước, sau đó mọi người sẽ được phân phát những cành lá này. Tiếp theo, cộng đoàn cùng nhau rước kiệu diễu hành với lá cọ trên tay, điều này đại diện cho sự chào mừng Chúa Giêsu khi Ngài vào thành Giê-ru-sa-lem. Việc cử hành này Giáo hội không chỉ làm mang cách bề ngoài, nhưng muốn nhắn nhủ mỗi người trở nên những nhân chứng sống động cho Chúa ngay trong cuộc sống hằng ngày như: cầu nguyện, giữ đạo, hy sinh, làm việc bác ái, biết chia sẻ với những người còn khó khăn,…..  Qua đây, khi kiệu lá ta phải ý thức mình như người hiệp sĩ theo Chúa vào cuộc chiến đấu với tội lỗi, với tà thần, với sự chết và hỏa ngục. Thánh giá của Chúa đi trước để mở đường chho ta vào trận, cành lá ta cầm trong tay biểu dương tinh thần hy sinh, ý chí cương quyết theo Chúa, hầu đạt đến sự sống đời đời, phong phú mà Chúa ban cho.

Tại các nước Phương Tây trong ngày lễ này, người ta thường dùng lá cọ để thực hiện các nghi lễ. Tuy nhiên, ở các vùng miền khác nhau có thể không có lá cọ hoặc khó tìm được nên mọi người thường thay thế bằng những cành cây thủy tùng, cây liễu… Ở Việt Nam, đa số các nhà thờ đều sử dụng lá dừa, lá vạn tuế. Nhưng dù sử dụng lá nào đi chăng nữa, chúng ta được mời gọi trong việc rước lá để tuyên xưng niềm tin đưa chúng ta vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chuẩn bị chúng ta chiêm ngắm cái chết đau thương của Người trên đồi Canvê.

Cùng với Giáo hội trong năm thánh Hiệp hành, Giáo hội đang mời gọi người ki-tô hữu bước với đi Người trên con đường thập giá để tiến vào vinh quang. Nơi đây, chúng ta cùng nhau đi qua những chặng đường với rất nhiều tâm tình của Chúa, không muốn chỉ là những khán giả đứng ngoài nhìn Chúa Giêsu, nhưng muốn đi cùng với Người trên con đường mà Ngài đã đi qua. Được như thế, con đường hiệp hành này sẽ “giúp cho toàn thể dân Chúa cùng nhau tiến bước, lắng nghe Chúa Thánh Thần và Lời Chúa, tham gia vào sứ mạng của Giáo hội trong sự hiệp thông mà Đức Kitô thiết lập giữa chúng ta.” Để từ đó con đường theo Chúa ngày càng thêm xác quyết hơn./.

Nguồn: conggiaoonline.com

Bức Tranh “Ba Thập Giá” – Chúa Nhật LỄ LÁ, Năm C

LL1a

Bức Tranh “Ba Thập Giá” 

T6a

 Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh họa Rembrandt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh “ba thập giá”. Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu nổi bật lung linh trong mầu nhiệm đau thương và cứu độ. Dưới chân thập giá là cả một đám đông, gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét…giữa nét đau khổ của hai tử tội, hận thù của đám đông là dung mạo Đấng Chịu Đóng Đinh hiền hòa chan chứa tình thương.

Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa nhật Lễ Lá. Cử hành phụng vụ hôm nay khởi sự bằng việc làm phép lá và đi kiệu lá. Cộng đoàn đi kiệu để tưởng niệm việc Chúa Cứu Thế khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Ngay sau đó là Thánh Lễ tưởng niệm cuộc Khổ nạn, đặc biệt với việc đọc Bài Thương khó. Việc cử hành hôm nay với hai nhịp tương phản, mang hai sắc thái nghịch nhau : người Do thái tung hô Chúa Cứu Thế, ngập tràn tiếng reo vui, sau đó họ đòi lên án tử hình Người và cuộc thương khó đầy máu nước mắt.

Ôi nhân tình thế thái, sao mau đổi trắng thay đen!

Màu đen sự dữ, màu trắng tinh khôi bàng bạc trong bức tranh “ba thập giá” và cuộc thương khó.

  1. Sắc đen sự dữ

Chìa khóa để đọc tất cả những sự vô lý, bất công, phi đạo đức trong vụ bắt và xét xử Chúa Giêsu là: quyền lực của tối tăm. Bốn sách Tin Mừng đều kể rằng Chúa Giêsu bị bắt ban đêm. Matthêu, Maccô và Gioan kể một đám người mang gươm giáo gậy gộc do các thượng tế, kỳ mục, Pharisêu sai đến. Thánh Luca lại nói có cả các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục ở trong bọn người mang gươm giáo gậy gộc. Trong đêm tối, đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện thì giới lãnh đạo cao nhất của dân Do thái đã hội họp tại nhà thủ lãnh của họ, sai thuộc hạ đi bắt Chúa Giêsu theo sự hướng dẫn của Giuđa, người môn đệ phản Thầy. Họ ngồi chờ để kết án ngay trong đêm.Phiên họp ban đêm này do chính Caipha, chủ tịch Thuợng Hội Đồng chủ sự. Thánh Matthêu kể: “Các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng tìm chứng gian buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình” (Mt 26,59). Họ dùng chứng gian vu khống và xuyên tạc chụp mũ để kết án tử hình Đức Giêsu (Mt 26,60-61; Mc 14,59).

Trong bộ phim 12 giờ cuối cùng của Chúa Giêsu, nhà đạo diễn đã hoạ lại hình ảnh của đêm tối vườn Cây Dầu. Đó là đêm tối của đức tin và cũng là đêm tối của lòng người.

Bộ phim bắt đầu với cảnh Chúa Giêsu đưa các môn đệ lên núi cầu nguyện vào một đêm đen như bao đêm khác.Thế nhưng, đêm nay khác hẳn mọi đêm. Bóng tối của sự dữ phủ kín, bóng đêm của quyền lực Satan bao trùm. Đêm nay, bóng tối của sự dữ hoành hành. Đêm nay, quyền lực của Satan như muốn thống lãnh thế gian. Con người đã toa rập với Satan để giết hại Con Thiên Chúa. Đêm tối vườn Cây Dầu chỉ còn lại một mình Chúa cô đơn.

“Giuđa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các Thượng tế và nhóm Pharisiêu; họ mang theo đèn đuốc khí giới…” (Ga 18,3). Người ta phải sử dụng đèn, đuốc…chứng tỏ họ đang ở trong bóng tối. Họ sử dụng khí giới tức là tựa vào sức mạnh và quyền lực thế gian. Với những từ ngữ này, Thánh Gioan giới thiệu họ như là biểu tượng của sức mạnh thế gian và quyền lực bóng tối. Giữa bóng đêm của vườn Cây Dầu thấp thoáng những khuôn mặt hung tợn với gươm giáo gậy gộc, xâu xé tấm thân đơn độc của Chúa Giêsu. Bóng tối như tiếp tay cho những hành động lén lút, bắt giữ bất minh. Màn đêm đó cũng che kín lý trí của những người tham dự phiên tòa bóng tối. Tất cả mọi chứng cứ kết án đều nằm trong vòng tròn gian dối. Mọi sự vật lúc này như nhuốm một màu đen đồng lõa cho sự dữ. Màu đen của những tâm hồn đen tối che lấp luôn cả màu đen của bóng đêm âm u. Đây là đêm của hận thù. Đây là giờ của bóng tối. Đây là thời điểm của xấu xa ngự trị. Không ai còn có thể nhận ra được ánh sáng chân lý trong màu đen của ác tâm.

Và trong các giờ kế tiếp, bóng tối càng bao trùm. Chúa Giêsu càng lẻ loi cô độc hơn.

Kể từ khi Giuđa bước ra khỏi phòng Tiệc Ly thì trời tối đen. Giuđa lẩn vào bóng đêm với đôi tay đen đúa nhận lấy những đồng bạc là giá máu của Thầy mình. Thánh Gioan trình bày, Giuđa rõ ràng thực hiện công việc này dưới tác động của Satan. Khi Giuđa rời phòng Tiệc Ly, “lúc đó, trời đã tối” (Ga 13,30). Trời tối bên ngoài chưa quan trọng. Ở đây, trời tối trong tâm hồn Giuđa. Đối với Gioan, Giuđa trong hành động nộp Chúa Giêsu đã thật sự là hiện thân của quyền lực bóng tối, đối lại với Chúa Giêsu là ánh sáng tinh tuyền.

Giuđa khoác lên trái tim màu đen của tội lỗi qua nụ hôn phản bội.Từ đó, bóng tối của sự dữ đã bao trùm lên Thượng Hội Đồng từ Thượng tế Caipha đến các Luật sĩ và Kỳ mục. Bóng tối như đồng lõa và biện minh cho mọi âm mưu thâm độc của những người đại diện cho lề luật.

Những mảng đen được tô đậm lên trên bức tranh Tình Yêu Giêsu, không phải bằng những nét vẽ dịu dàng, những nét chấm phá đặc sắc nhưng là những vết màu ngoằn nghèo, vô lối. Tình Yêu Giêsu lúc này đang bị tàn phá theo từng vết đen xấu xa của đám đông. Bóng tối đã làm tất cả mờ ảo trong điên cuồng. Mọi âm mưu đã được trù tính cẩn mật. Mọi lý lẽ độc dữ đã được hoạch định. Mọi hành vi được thực hiện ngay trong bóng tối của thần chết. Cứ thế, từng mảng đen tội lỗi như được dịp trút hẳn xuống Đức Giêsu, như muốn nhuộm đen toàn bộ cuộc đời và tình yêu của Ngài bằng mọi cách và mọi phương tiện. Ngài bị cho là đồ mê ăn uống, là phường tội lỗi. Ngài bị liệt vào hàng trộm cướp, hàng nô lệ cùng đinh. Ngài bị xem là phường gian dối, tiên tri giả. Ngài bị kết án là quân nói lộng ngôn, phạm thượng. Ngài bị xử tử vì bị gán cho việc kích động phản loạn. Đám đông dân chúng, từ những tên đầy tớ mạt hạng đến những bậc vị vọng, từ những người quen biết đến cả khách thập phương không từ chối điều gì để bôi đen con người Đức Giêsu. Ngài đã bị nhúng xuống bùn nhơ của sự khinh miệt, phỉ báng. Ngài đã bị đày đọa tận cùng của kiếp làm người.(x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 252-253).Tình Yêu Giêsu đã bị tội lỗi nhân loại nhuộm đen màu tăm tối. Cuộc đời Chúa Giêsu đã bị dã tâm con người hủy hoại trong bóng đêm của sự bêu riếu, sỉ nhục và cái chết trần trụi thương đau. Nào ai có thể tin vào con người tàn tạ như thế! Còn ai có thể trông cậy vào con người yếu đuối bất lực này!!!

  1. Sắc trắng thanh khiết

Tưởng chừng như bức tranh cuộc đời của Đức Giêsu chỉ là một vệt đen khiếp đảm với những ẩn tình vô lối mà nhân loại áp đặt lên chân dung Ngài. Nhưng thật nhẹ nhàng và linh động, Tình Yêu Giêsu như ngọn bút tài hoa đã gợi mở những nét vẽ thật diễm tuyệt. Tình Yêu sáng lên một màu trắng tinh khôi và mênh mang huyền ảo của trái tim thanh khiết trao ban đến tận cùng.

Tình Yêu ấy không mang một chút bợn nhơ của hận thù chia cắt nhưng lóng lánh sắc màu hồng tươi của Tình Yêu phục hồi và giải thoát. Tình Yêu ấy chấp nhận tất, dâng hiến tất cả để xóa đi mặc cảm tội lỗi của con người, cho con người cái nhìn mới của Thần Khí, cái nhìn của Thiên Chúa trong một tổng thể toàn vẹn và đưa con người đến với Tình Yêu sung mãn tuyệt hảo của Thiên Chúa. (x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 254-255).

Màu đen sắc tối của con người đã được Tình Yêu Giêsu làm cho trắng tinh và trả lại sự trong sáng trong Sự Thật. Ngài đã đáp trả lại tất cả mọi bất công và hận thù bằng lòng bao dung tha thứ. Khổ đau của Thập Giá Đức Kitô không bao giờ là nỗi đau của hận thù, oán ghét mà luôn mang dáng đứng của tình yêu và sự khoan dung tha thứ. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Hơn thế nữa, Ngài công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa ngay trên thập giá, lúc mà thế trần nhìn thấy Ngài trần trụi và yếu đuối nhất, khi Ngài ôm trọn con người tội lỗi trần gian qua hình ảnh tên gian phi biết cúi mình nhận ra Chân Lý: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Đức Giêsu đã xóa màu đen ghê tởm của sự dữ trong lòng con người qua việc phục hồi giá trị của mỗi nhân vị và đưa nhân loại đến với Thiên Chúa qua Tình Yêu toàn tha của Ngài. Đức Giêsu đã dùng cạn hết mọi dấu chỉ của thế trần để biểu lộ Tình Yêu thâm sâu của Ngài cho chúng ta. Đó là màu trắng thanh khiết nhất và là ánh sáng đẹp nhất mà nhân trần này có thể chiêm ngưỡng.

  1. Trắng đen trong lòng người.

Tiến bước theo Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người, thấy sự tráo trở thay lòng đổi dạ, đổi trắng thay đen của nhân tình thế thái, chúng ta thấy bàng bạc một màu đen của những ý đồ xấu xa, những manh tâm gian ác và những hành vi tội lỗi thấp hèn và thấy sáng lên tình yêu thanh khiết của Đấng Cứu Độ.

Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những sắc tối của lòng người. Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những con người công chính, lương thiện lại là nạn nhân của bất công, gian dối và tham lam. Biết bao người đã để cho bóng tối của lòng tham nổi loạn đến nổi sẵn sàng chà đạp và lường gạt nhau. Biết bao người vì lòng tham, vì tính ghen tương đố kỵ,vì thói tự mãn kiêu căng vẫn đang tìm cách làm khổ nhau và làm hại đời nhau. Bao lâu lòng người còn chất chưa những ý đồ bất chính, những thủ đoạn lừa lọc, những ích kỷ nhỏ nhen, bấy lâu vẫn còn đó những con người lương thiện bị đe doạ, bị hành hạ và bị loại trừ.

Con người thời nay vẫn nhân danh hạnh phúc của riêng mình để kết án tử cho người khác, nhất là các thai nhi vô tội. Họ giết người vô tội không cần bản án, không cần thẩm phán hay quan toà. Tử tội thai nhi đã bị giết, chỉ vì một bà mẹ không muốn sinh con. Cả xã hội từ ông bà, cha mẹ, họ hàng và các người hành nghề lương y đã sẵn sàng giết chết sự sống của một sinh linh không có khả năng tự vệ. Biết bao cha mẹ đã viện ra nhiều lý do để loại trừ những đứa con của mình cách dửng dưng vô cảm.

Điều ác và sự thiện cũng chỉ là sự khác biệt của hành động rút gươm “hãy xỏ gươm vào bao, vì tất cả những ai dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52). Khi tất cả mọi lưỡi gươm được cất vào vỏ, sự thiện và thiên đàng đang ở giữa lòng thế giới. Khi thanh gươm được rút khỏi bao, nhân loại đang đắm chìm trong hỏa ngục của chính mình. Con người luôn muốn hành xử tất cả theo lối quyền uy và bạo lực của bóng tối. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã dùng một phương cách kỳ lạ để cho con người thấy đâu là sự thật nhân loại cần hướng về. Qua Ngài, những cơn cuồng nộ của sự dữ, những bão táp của nhục hình, những tiếng thét hận thù như bị cuốn vào một lực hút vô hình của Tình Yêu thanh khiết. Sức của của tình yêu nơi Chúa Giêsu đã thâu tóm mọi sự xấu xa độc dữ của nhân loại và hóa giải tất cả để biến nên những giá trị mới của hiền lành, khiêm nhường và khoan dung.(x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 258-260).

Chúa Giêsu không quỵ lụy, không riên xiết trong cuộc khổ nạn, nhưng Ngài luôn kiên cường và nhẫn nại để mời gọi và mở ra cho nhân loại một cái nhìn về chân lý, về tình yêu, về một Thiên Chúa yêu thương đến cùng. Chúa Giêsu không oán trách hay hận thù ai, Ngài vượt lên trên tất cả bằng tình thương tha thứ. Chúa Giêsu đã biểu lộ sức mạnh của tình yêu, sức mạnh của niềm tin và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Chính sức mạnh tình yêu đã làm mọi chia rẽ được hàn gắn, mọi hận thù được xóa bỏ và mọi xa cách được nên hiệp nhất. Chúa Giêsu đã hợp nhất nhân loại trong trái tim rộng mở của Ngài, trái tim chỉ có tình yêu thanh khiết. Ngài nâng con người lên giá trị cao hơn trong sự kết hiệp với tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu Nguyên Tuyền.

Ánh Sáng Tình Yêu chính là Ánh Sáng Phục Sinh. Ánh Sáng ấy không làm mờ đi bóng cây thập giá nhưng lại mang một ý nghĩa và sắc màu huyền diệu lung linh. Tin và bước theo Chúa Giêsu, chúng ta được tháp nhập vào tình yêu thanh khiết của Ngài, nhờ đó cuộc sống luôn có niềm vui bình an và hạnh phúc. Thánh Gioan đã đi trọn cuộc khổ nạn cùng với Chúa Giêsu và đã viết những lời thật đẹp, thật ý vị về Tình Yêu Chúa Giêsu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ.Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo”. (1Ga 4,10-12).

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

LL1a

 

Đấng Thấu Suốt Tâm Hồn Con Người – Chúa Nhật IV Mùa Chay, Năm C

CN5 1

Đấng Thấu Suốt Tâm Hồn Con Người

CN5 2

Sau một đêm nghỉ ngơi ở khách sạn ngàn sao, sáng sớm Chúa Giêsu trở lại đền thờ. “Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy cho họ”. Bỗng có tiếng xôn xao. Một nhóm Kinh sư và Pharisiêu đang lôi một người đàn bà tới, đám đông dạt ra, họ xô chị ra đứng trước mặt Chúa Giêsu. Họ bất ngờ lập tòa án ngoài trời và mời Chúa Giêsu làm quan tòa. Học đọc cáo trạng: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”.

Nghe câu đầu của bản cáo trạng, chúng ta có thể cười thầm: Vậy là các anh đi nhòm qua lỗ khóa nhà người ta hả? Đối với họ thì bản án đã có sẵn trong Luật Môsê: ném đá! Chúa biết họ muốn gì ! Chúa trả lời bằng cách : “Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. ” Vì họ cứ nói mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Tin Mừng không nói Chúa viết cái gì, chỉ nhắc hai lần “Chúa cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất”. Trước hết, Chúa kéo con mắt và sự chú ý của họ khỏi người đàn bà đang đứng ở giữa, khỏi thái độ quan tòa, tập trung vào ngón tay của Chúa. Chúa thinh lặng, họ cũng thinh lặng. Một lúc sau họ lại hối thúc Chúa trả lời. Chúa ngẩng đầu lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”. Rồi người lại cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất”. Sau khi kéo sự chú ý của họ khỏi người đàn bà và bắt họ cúi xuống nhìn ngón tay của Chúa di chuyển trên mặt đất, Chúa bỗng lật sự chú ý và cái nhìn của họ quay vào chính mình họ. Hãy nhớ Luật do ông Môsê chuyển đạt cho các ông là do Thiên Chúa ban: “Sau khi phán với ông Môsê trên núi Sinai, Đức Chúa ban cho ông hai tấm bia chứng ước, hai tấm bia này do chính tay Thiên Chúa viết” (Xh 31,18). “Những bia ấy là do Thiên Chúa làm ra, chữ là chữ viết của Thiên Chúa, khắc trên đá (Xh 32, 16). “Đức Chúa đã ban cho tôi hai bia đá do ngón tay Thiên Chúa viết” (Đnl 9,10). Chúa như nói với họ: Luật Môsê là do Thiên Chúa ban, do ngón tay Thiên Chúa viết, thì Thiên Chúa mới là Đấng xét xử, và người xét xử các ông nữa đấy! Kết quả là họ nhìn vào chính mình… “rồi họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi”. Lối châm biếm thật là sâu sắc: càng già càng lắm tội! Chúa Giêsu chứng tỏ Người có quyền xét xử như Thiên Chúa, soi thấy tâm can mỗi người chứ không theo vẻ bên ngoài.

“Chỉ còn lại một mình Chúa Giêsu và người phụ nữa thì vẫn đứng ở giữa”. Ta ngạc nhiên: chỉ còn Chúa Giêsu ngồi đó, người phụ nữ thấy chung quanh mình chẳng còn ai nhưng cũng chưa dám bỏ đi. “Vẫn đứng ở giữa,” có thể hiểu là vẫn đứng yên chỗ đã đứng như trước vành móng ngựa ở tòa án, những kẻ tố cáo đứng vây quanh đã nhận biết họ chẳng tốt gì hơn mà đòi kết án chị; họ đã bỏ đi hết, chị đứng một mình trước Đấng có quyền xét xử. Thánh Augustinô bình luận: Chỉ còn lại hai: con người yếu hèn và Đấng đầy lòng thương xót.

Chúa hỏi như để mở cho chị thấy hoàn cảnh của mình: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”. Chị đáp: “Thưa ông, không ai cả”. Đấng có quyền xét xử nói với chị: “Tôi cũng vậy, tôi không kết án chị đâu! Thôi, chị cứ về đi và đừng phạm tội nữa!”. Người không kết án chị, chỉ yêu cầu chị “đừng phạm tội nữa”. Họ không dám kết án chị vì họ tội lỗi hơn chị. Tôi không kết án chị vì tôi là Đấng có quyền xét xử. Lời Chúa Giêsu nghe như vọng lời Thiên Chúa phán trong sách Êdêkien: “Ta lấy mạng sống ta mà thề, Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Ed 33, 11; x. 18, 32).

Câu chuyện người đàn bà ngoại tình không phải chết nhưng được sống, cũng minh họa lời Chúa Giêsu mời gọi “hãy đến với tôi mà uống”. Người ta lôi chị đến trước mặt Chúa, nhưng Chúa đã cho chị uống lòng nhân lành thương xót để chị được sống, và đặt chị trở lại trên con đường đi tới sự sống: “Đừng phạm tội nữa!” (x.Tĩnh tâm với Tin Mừng Gioan, Lm Giuse Nguyễn Công Đoan).

Chúa nhật IV, qua dụ ngôn “người cha nhân hậu”, Chúa Giêsu mạc khải về Thiên Chúa là Cha giàu lòng xót thương. Chúa nhật V, Chúa Giêsu mạc khải về Thiên Chúa là Đấng thấu suốt tâm hồn con người và Ngài luôn mở ngõ cho con người hướng về tương lai.

  1. Chúa Giêsu, Đấng thấu suốt tâm hồn con người.

Đứng trước câu hỏi thách thức “Thầy dạy sao?” của cánh Biệt phái, Chúa Giêsu biết rằng cạm bẫy đã được trương ra cho Người. Nếu dạy người ta tha cho người phụ nữ, Người sẽ bị kết án chống lại lề luật; còn nếu dạy người ta ném đá bà, giáo lý về lòng nhân ái của Người sẽ sụp đổ hoàn toàn. Tiến thoái lưỡng nan. Chúa Giêsu im lặng. Kẻ thù đắc chí. Dân chúng đợi chờ. Rồi với câu trả lời “Ai vô tội, hãy ném đá chị này trước đi”, Chúa Giêsu đã phá vỡ sự im lặng của mình để đẩy cánh Biệt phái vào một sự im lặng khác đầy ngột ngạt: sự im lặng trước toà án lương tâm.

Sự kiện này hé mở cho thấy Người là Đấng thấu suốt tâm hồn. Chẳng có gì là thầm kín trước Thiên Chúa toàn tri, chẳng có ai là trong sạch trước Thiên Chúa thánh thiện. Người phụ nữ đã để cho dục vọng buông lơi nên dấn thân vào đường tội lỗi, nhưng cánh Biệt phái cũng đã để cho hận thù xâm chiếm nên bài binh bố trận hòng đẩy Chúa Giêsu vào cạm bẫy chết. Họ có hơn gì? Có gia đình mà còn chim chuột trăng hoa, người ta gọi đó là “ngoại tình”, thế thì có đạo mà còn ác tâm mưu hại người khác có thể gọi là “ngoại đạo” chăng?. Coi chừng: quen kết án người khác về điều gì là tự tố giác mình đang có khuynh hướng ngầm nghiêng về điều đó (F.Sheen). Tội lỗi phải bị lên án, nhưng tội nhân cần được đối xử công bình, mà công bình đích thực trước tiên hệ tại việc ổn định lương tâm riêng tư mỗi người. Lẽ công bình là điều kiện để xây dựng tình nhân ái. (x. ĐGM Giuse Vũ Duy Thống, Nút vòng xoay, tr 53-58).

  1. Chúa Giêsu, Đấng giàu lòng nhân ái.

Đẩy cánh Biệt phái vào tận lương tâm trách nhiệm để họ lặng lẽ rút lui, Chúa Giêsu đã tạo điều kiện cho người phụ nữ nhìn lại cuộc sống của mình để ăn năn sám hối và nhìn vào lòng của Người mà tin tưởng làm lại cuộc đời. Là Đấng duy nhất không có tội, Người từ chối lên án. Người không được sai đến để kết án, nhưng là để cứu thoát… câu cuối cùng của bài Phúc âm chính là cao điểm kiết thúc cho cả câu chuyện. Người phụ nữ được tha bổng, không phải vì Chúa Giêsu không cho là quan trọng cái tội mà bà vướng mắc, nhưng chỉ vì lòng nhân ái của Người cao cả bao la. Cao hơn tội bà vấp phạm và bao la hơn nỗi lòng hồi hộp đợi chờ của bà phút ấy. Dẫu sao, đi kèm với ơn tha thứ, vẫn là lời mời gọi “từ nay đừng phạm tội nữa” (sđd).

  1. Chúa Giêsu, Đấng mở lối về tương lai 

Người ta đòi ném đá người phụ nữ, đóng khung cuộc đời chị trong quá khứ. Quá khứ được đóng dấu bằng tội lỗi. Người ta đánh giá, phán đoán, hành động trên quá khứ đó. Chúa Giêsu không chấp nhận lối nhìn và cách đánh giá ấy. Tội nhân luôn đáng thương nên cần được thương cho đáng. Đó là chuyện tử tế và cũng là chuyện thực tế. Yêu thương họ là cầu nguyện và giúp đỡ họ trở về đường lành. Chúa Giêsu nhìn nhận người phụ nữ có tội. Nhưng Ngài mở ra một tương lai, gieo vào lòng chị niềm tin tưởng rằng chị có khả năng xây dựng một tương lai mới, một cuộc đời mới, một con người mới: “Chị hãy về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Chúa Giêsu không kết án cũng như không giảm án, không ân xá cho tội nhân. Chúa mở cho chị một con đường hướng về tương lai, làm lại cuộc đời. Đó là con đường sám hối trở về với tình yêu, trở về với đời sống là con cái Thiên Chúa, trở về với tâm hồn bình an. Người phụ nữ ra về lòng tràn ngập niềm vui hoán cải, quyết tâm làm lại cuộc đời.

Một truyền thống nói rằng người đàn bà này là Maria Madalena, người được trừ khỏi bảy quỷ (Lc 8,2), và đã bày tỏ tình yêu qua việc dùng nước mắt rửa chân Chúa, lấy tóc mình lau chân Chúa, xức dầu và hôn chân Chúa Giêsu (Lc 7,37). Một truyền thống khác cho rằng đây là Maria làng Bêtania, em của Matta và Lazarô (Lc 10,39), đã xức dầu thơm cho Chúa (Ga 12,3). Có lẽ người đàn bà ngoại tình, Maria Madalena và Maria làng Bêtania cùng là một người. Và cả 4 Phúc âm đều nói đến Maria Madalena ở mộ Chúa như chứng nhân đầu tiên của sự Sống Lại. Và như người loan báo Tin Mừng Phục Sinh đầu tiên. Chính lòng thương xót của Chúa đã biến đổi từ một người tội lỗi trở thành một môn đệ thân thiết nhất của Chúa Giêsu: “Maria ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Người” và trở thành người loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Chúa Giêsu: Bà Maria Madalena đi báo cho các môn đệ: “tôi đã thấy Chúa” và bà kể lại những điều Người đã nói với bà” (Ga 20,18). Tình yêu và lòng Sám hối có quyền lực biến đổi bóng tối thành ánh sáng, biến đổi những tội nhân thành các thánh nhân ‘Lumen Gentinm số 171’ (x.ĐGM Giuse Trần Văn Toản, Lời Chúa và cuộc sống năm 2015).

Thiên Chúa, Đấng mở ngõ cho tương lai. Ngài không khoá chặt cuộc đời một con người cũng như lịch sử  nhân loại vào quá khứ, cho dẫu quá khứ ấy có bi thảm và tàn tạ đến đâu chăng nữa. Thiên Chúa luôn luôn mở ngõ và vạch lối cho tương lai.

Vẫn biết tội lỗi trái với đạo giáo, trái với luân thường đạo lý, nhưng đâu chỉ căn cứ vào đạo giáo luân lý để khinh khi, coi thường, kỳ thị sự sống con người được. Đạo giáo luân lý giúp con người sống thăng tiến về mặt tinh thần chứ không bao giờ là bước cản trở nhận chìm con người xuống bùn đen. Đã là người, ai cũng có những khuyết điểm, ai cũng có lúc làm điều lầm lỗi. Nhưng ai cũng có khả năng ý chí ước muốn làm điều lành thánh thiện tốt đẹp. Thiên Chúa dựng nên con người với khả năng như thế.

Chúa Giêsu đã sống và đã nêu gương. Ngài không kết án, không giảm án, nhưng là mở ra con đường hướng về tương lai cho con người tội lỗi làm lại cuộc đời. Lêvi, Giakêu, Mađalêna, Augustinô… và còn biết bao con người đã được Chúa mở ngõ tương lai tươi sáng. Niềm tin đó tạo nên nơi người tín hữu một lối nhìn mới. Đó là nhìn về phía trước, băng mình về phía trước như thánh Phaolô diễn tả: “Tôi chỉ chú ý tới một điều là quên đi chặng đường đã qua để lao mình về phía trước” (Pl 3,13). Đối với Phaolô quên đi chặng đường đã qua là qua khứ bắt bớ Giáo hội Chúa để lao mình về phía trước, phía tương lai mà Chúa Giêsu đã mở ra, đặt ngài làm khí cụ, làm tông đồ dân ngoại. Và thánh nhân đã sống hết mình cho tương lai mới.

Nhìn về phía đàng trước để luôn hy vọng và tin tưởng. Tin vào chính mình, vào con người, vào cuộc đời. Và trên hết là tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngõ cho tương lai chúng ta.

+ Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

CN5

 

 

 

Nâng cao nhận thức đời sống đức tin trong không gian mạng xã hội

3

(DMNC) Theo đánh giá của Hãng nghiên cứu thị trường ComScore (Mỹ), Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có dân số trực tuyến lớn nhất tại khu vực ASEAN. Số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho biết số lượng người sử dụng internet mỗi năm trong nước tăng nhanh. Đây được đánh giá là điều kiện lý tưởng để cho các trang mạng xã hội xuất (MXH) hiện và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường không gian mạng tại Việt Nam giúp con người kết nối lại gần nhau và trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên bên cạnh những giá trị mà nó đem lại, các trang mạng xã hội đang là một rào cản lớn đối với đời sống đức tin của người Công giáo đặc biệt các bạn trẻ.

1
Mạng xã hội đang là một rào cản lớn đối với đời sống đức tin của người Công giáo đặc biệt các bạn trẻ.

* Nên thánh hay sa ngã

Sự ra đời của các trang mạng xã hội như: youtube, facebook, tiktok, zalo, Twitter …. đã trở thành công cụ thông tin liên lạc và chia sẻ cộng đồng phổ biến đối với hàng tỷ người trên thế giới. Việc tìm kiếm thông tin như: đọc sách báo, tin tức, lưu trữ dữ liệu, chia file, xem phim ảnh, học tập, làm việc, kết nối, tâm sự, kinh doanh, mua bán, kêu gọi từ thiện, vv….Giúp cho con người làm việc một cách hiệu quả và nhanh nhất. Đối với đời sống đức tin người Công giáo, đây cũng là điều kiện giúp cho những người không thể đến nhà thờ, giúp người trẻ học hỏi giáo lý, kinh thánh, các vấn đề liên quan đến đức tin và đời sống đạo,… Không ít Kitô hữu sử dụng tài khoản riêng và xem đó như là một kênh thông tin kết nối phong phú đa dạng, không chỉ người Kitô hữu, nhiều linh mục, tu sĩ đã tham gia MXH và kết bạn với nhiều người tín hữu khác với mong muốn loan truyền lời Chúa giữa thời đại công nghệ số.

ttt
Mạng xã hội youtube, facebook, tiktok, zalo, Twitter ….

Kể từ thời ĐTC Bênêđictô XVI, mạng xã hội đã trở thành một phương tiện quen thuộc để Tòa Thánh mở rộng vòng tay với cộng đồng. Các vị đứng đầu Giáo hội Công giáo đã không “làm ngơ” mạng xã hội khi nó ngày càng trở nên quen thuộc với các “công dân mạng”. Ngày 12/12/2012, ĐTC Bênêđictô XVI đã chính thức gia nhập mạng xã hội Twitter với tên truy cập là Benedict XVI, để cập nhật tình trạng cũng như những thông điệp của mình tới giáo dân. Bất cứ ai cũng có thể đăng ký để theo dõi các thông điệp của ĐTC bằng nhiều thứ tiếng thông qua địa chỉ @Pontifex. Từ đó, Tòa Thánh đã trở thành thành viên “tích cực” của truyền thông xã hội. Cụ thể nhất, năm 2021, tình hình dịch bệnh cả nước đã trở nên trầm trọng hơn với số ca mắc COVID-19 cùng với số ca tử vong tăng đột biến. Đại dịch COVID-19 đã lan ra toàn bộ 63 tỉnh, thành tại Việt Nam đã tác động lớn đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội lẫn đời sống tín ngưỡng tôn giáo. Chính lúc này sức mạnh của mạng xã hội ngày càng được phát huy, các giáo phận, giáo xứ, hội đoàn,… đều chuyển sang hình thức trực tuyến như: thánh lễ online, chầu trực tuyến, hội họp trực tuyến,…

33
Giáo dân tham dự Thánh lễ trực tuyến trên kênh youtube

Chính vì những lý do đó, Giáo hội luôn kêu gọi các tín hữu Công giáo sử dụng mọi phương tiện truyền thông sẵn có để loan báo Tin Mừng. Đồng thời luôn trân trọng mọi trang web và mạng xã hội do cá nhân các tín hữu trong và ngoài Công giáo thực hiện, nếu các phương tiện truyền thông ấy thể hiện được chân lý, công bằng và bác ái. Qua đây, chúng ta đang dần “nên thánh” nhờ sự ra đời của các trang MXH với mục đích loan tỏa tình thương của Chúa và phát triển Giáo hội.

Dẫu biết rằng, sự tiện ích mà công nghệ đem lại chắc hẳn ai cũng đều công nhận về những giá trị mà nó mang đến, nó đã giúp mọi người dễ dàng trong việc tìm kiến thông tin và cập nhập tin tức, chỉ cần một click chuột là sẽ biết mọi sự diễn ra trên thế giới. Thế nhưng trong sự tiện ích đó, tưởng chừng con người đựơc nối lại gần nhau hơn, sẽ sống nhân văn, sống tích cực để đạt tới sự hoàn thiện bản thân hơn thì dường như không ít các bạn trẻ ngày nay đang bị nó làm chủ và không còn biết mình đang nên thánh hay sa ngã giữa thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẻ. Đây cũng là nỗi băn khoăn lo lắng cho các bậc phụ huynh, những người hữu trách cũng như nỗi lo của Giáo hội. Bởi song song với các trang web và mạng xã hội tốt đẹp do những cá nhân tín hữu thực hiện, còn có những trang web và mạng xã hội khiến con người trở nên mù quáng trong thế giới ảo.

* Mối quan tâm đạo đức

Giới trẻ ngày nay đang đứng trước cơn khủng hoảng về các gí trị luân lý, đạo đức và có nguy cơ loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình. Không ít người vì thiếu hiểu biết, sống buông thả chỉ biết sống cho chính mình mà không cần quan tâm đến những người xung quanh, thích tự do, thích hưởng thụ, lạm dụng MXH chỉ biết khỏe hoang. So với 10 năm trước đây nhiều bạn trẻ có ngoại hình xinh đẹp, học hành giỏi giang, tham gia nhiều hoạt động xã hội luôn được cộng đồng mạng ca ngợi, giờ đây bất kỳ chàng trai cô gái nào cũng có thể trở nên “nam thần”, “nữ thần” qua những app chỉnh sửa của chiếc điện thoại thông minh để đăng lên các trang MXH  để có thật nhiều người theo dõi, ca ngợi. Có người giành thời gian kêu gọi người quen thả “tim”, “thương thương” để được nhiều người chú ý, dần dần hành vi này chuyển thàn một thói quen mà không nghĩ gì về hành động đang làm, không nghĩ mình đang “like” về điều gì?, nội dung bài “like” đó như thế nào?, Và rồi hành động “click like” trở thành một phản xạ, một thói quen, like một cách vô tội vạ,… Người trẻ dần trở nên vô tâm, thờ ơ với cuộc sống xung quanh, một số khác sống trong lối suy “cùn” của chủ nghĩa tương đối, nghĩa là: học tương đối, thân tương đối, tình yêu tương đối, giữ đạo cũng thương đối và yêu mến Chúa cũng tương đối thôi, mà MXH chính là “tuyệt đối”. Chính lối suy nghĩ đó, ta dễ nhìn thấy nơi người trẻ một thực trạng chung đó là muốn tự do, ngại lập gia đình, thích hưởng thụ. Họ đã xem MXH như “người bạn tri kỉ” tuyệt đối, giành nhiều thời gian vào những việc vô bổ như: xem phim, chơi game, giải tỏa nhu cầu sinh lý qua các trang web đen,..

2

Theo thống kê của Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông), đến giữa năm 2018 Việt Nam có khoảng 360 mạng xã hội của tổ chức, doanh nghiệp trong nước được cấp giấy phép và đang hoạt động. Với khoảng 55 triệu người sử dụng mạng xã hội, chiếm khoảng 57% dân số và chủ yếu tập trung sử dụng các mạng xã hội lớn như Facebook, YouTube, Zalo… Còn Theo thống kê từ Google Trends, người dùng Internet tại Việt Nam có xu hướng tìm kiếm các nội dung khiêu dâm nhiều hơn sau khi hàng loạt nhà mạng chặn truy cập web phim người lớn.

Những người sủ dụng internet rất dễ bị rơi vào bẫy coi nội dung khiêu dâm, vì dễ tiếp cận và luôn có sẵn, chỉ cần một click chuột sẽ biết đủ mọi thứ và tha hồ lựa chọn. Hành trình thoát khỏi cám dỗ khiêu dâm trong một con người là một hành trình đi từ sự thiếu hiểu biết đến hiểu biết, từ tránh né đến hành động cụ thể, từ xấu hổ đến liêm chính, từ dối trá đến trung thực,…. Trong những trường hợp này, nhiều bậc phụ huynh hay những người có trách nhiệm cũng khó có thể kiểm soát được tần suất việc làm của con trẻ. Đây cũng là nỗi băn khoăn lớn của các bậc phụ huynh và những người hữu trách. Chính lúc này, cần nâng cao nhận thức và đào tạo luân lý đầy đủ cho con trẻ và thanh thiếu niên.

Nhiều chuyên gia y tế cảnh báo về nguyên nhân trầm cảm hiện nay do nghiện điện thoại, game,. Đặc biệt là facebook đến nổi phải đưa đi bệnh viện tâm thần điều trị. Trong 3 nhóm tuổi (học sinh và thanh thiếu niên; phụ nữ trước sinh và sau sinh; người cao tuổi), thì nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm cao hơn đó là học sinh và thanh thiếu niên. Các nghiên cứu cho thấy, người trầm cảm có nguy cơ tự tử cao gấp 25 lần so với người khác và trên 50% số ca tự tử có rối loạn trầm cảm. Khi nghiện Facebook, sẽ dẫn đến mất ngủ, nghèo nàn các kỹ năng xã hội, giảm sút các mối quan hệ thật do sống ảo; hiệu suất công việc, học tập giảm; có thể dẫn đến sử dụng ma túy, chất kích thích…

3

 Các bác sĩ khuyến cáo: Hiện chưa có con số đo lường cụ thể về mốc thời gian, tần suất sử dụng Facebook của cộng đồng. Tuy nhiên, khi một người có các dấu hiệu như: Sử dụng Facebook hàng ngày, khi không có mạng để vào Facebook hoặc bị ngăn cản, cấm vào Facebook sẽ cảm thấy bồn chồn, khó chịu; vào Facebook mọi lúc, mọi nơi kể cả khi đang làm việc, học tập; việc sử dụng Facebook làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, học tập… thì đó là dấu hiệu của nghiện Facebook. Đây là lúc cảnh báo bạn nên ngừng sử dụng Facebook nếu không muốn gặp phải những hệ lụy lớn hơn…

Những hệ lụy mà MXH đem lại nếu ta không biết sử dụng đúng cách nó tác động không chỉ đến từng cá nhân mà ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước, của Giáo Hội. Những vấn đề nói trên cũng chính là những vấn đề mục vụ cần được quan tâm và đưa ra các hướng giải quyết. Bởi tuổi trẻ là mầm non, là tương lai cho sự phát triển của Giáo Hội. Đây cũng là một thách đố lơn đối với Giáo Hội.

Ước mong đời sống đức tin nơi người trẻ biết cách sự dụng không gian mạng xã hội một cách có hiệu quả để mở rộng truyền thông, tạo tương quan trong các mạng xã hội để xây dựng các cộng đoàn ngoài đời thực và rao truyền sứ điệp của Chúa Ki tô trên quy mô toàn cầu./.

Nguồn: conggiaoonline.com

MENU

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI CÚI MẸ NÚI CÚI HÀNH HƯƠNG TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN GIÁO PHẬN TƯ LIỆU NÚI CÚI CẦU NGUYỆN LIÊN HỆ
Hành hương
Hiệp ý
Menu
Thông báo
Đăng ký
Facebook Zalo TikTok YouTube
ĐĂNG KÝ